In trang

PHÂN VI SINH VẬT
Cập nhật lúc : 12:10 14/01/2013

PHÂN VI SINH VẬT

1. Khái niệm

Có rất nhiều cách định nghĩa phân vi sinh. Theo Lê Văn Tri phân vi sinh là chế phẩm chứa các vi sinh vật sống có hoạt lực cao đã được tuyển chọn. Thông qua các hoạt động của nó tạo ra các chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng phát triển tốt hơn

Theo GS. Võ Minh  Kha, phân vi sinh vật là chế phẩm có chứa một hoặc nhiều chủng vi sinh vật sống có ích cho cây trồng đã được tuyển chọn có sức hoạt động cao, dùng bón vào đất  hoặc xử lý cho cây để cải thiện hoạt động của vi sinh vật trong đất vùng rễ cây nhằm tăng cường sự cung cấp các chất dinh dưỡng từ đất cho cây trồng, cung cấp các chất điều hoà sinh trưởng, các men, vitamin có lợi cho các quá trình chuyển hoá vật chất, cung cấp các chất kháng sinh để giúp cho cây chống lại sâu bệnh hại góp phần nâng cao năng suất phẩm chất nông sản và tăng độ mầu mỡ cho đất, các chủng vi sinh vật này không gây ảnh hưởng xấu đến người, vật nuôi môi trường sinh thái và chất lượng nông sản

Tóm lại, phân vi sinh vật là các chế phẩm có chứa vi sinh vật sống và là một trong những chất cải tạo đất với vai trò chủ yếu nhằm cung cấp những nguyên liệu hoá học hoặc sinh hoá để cải tạo lý hoá và sinh tính của đất nhờ đó mà có thể huy động nhiều chất dinh dưỡng dự trữ trong đất cho cây trồng và tạo môi trường thích hợp cho sự phát triển của cây và bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây

2. Đặc điểm

 - Phân vi sinh vật là chế phẩm của các vi sinh vật sống. Chất lượng của phân vi sinh phụ thuộc vào đặc tính của chủng vi sinh, thành phần và điều kiện chất mang và thời gian bảo quản. Thời gian sử dụng thường ngắn: khoảng 6 - 12 tháng.

 - Mỗi loại phân vi sinh  chỉ có đặc tính đối với một laọi cây trồng nhất định nên phân vi sinh không thể sử dụng tuỳ tiện.

 - Trong mỗi loại phân vi sinh có thể chỉ có một chủng vi sinh vật hoạt động nhưng cũng co thể có 2 - 3 chủng có mối quan hệ tương hổ tăng cường hoạt động cho nhau. Nếu có sự kết hợp tốt thì sản phẩm phân vi sinh sẽ có chất lượng cao.

 - Sau khi bón phân vi sinh cho đất và cây trồng, mật độ vi sinh vật tăng mạnh sau đó giảm dần và ổn định trong quá trình cây trồng phát triển, khi thu hoạch mật độ này giảm mạnh cân bằng với quần thể sinh vật đất. Vì vậy để đảm bảo liên tục các chủng vi sinh này cần bón thường xuyên ở các vụ sau. Có thể bón liên tục nhiều năm không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đất.

 - Hàm lượng dinh dưỡng N,P,K trong phân thấp vì vậy phân vi sinh có thể bón kết hợp với các loại phân vô cơ khác chứ không thể dùng để thay thế.

 

 

3. Cách sử dụng

- Thường dùng thay thế phân chuồng bón lót là chính, và cũng dùng bón thúc cho cây lưu niên sau thu hoạch, kèm với phân vô cơ (NPK).

- Liều lượng bón:

100-200 kg/công (1.000 m2) với cây ngắn ngày như: Rau, màu, đậu đỗ, cây lương thực…

0,5-1kg/cây lưu niên trồng mới. Nếu cây lớn tuổi, bón theo diện tích tán cây: Cứ 0,5-1kg/m2 tán lá.

Chú ý trộn đều phân với đất mặt, bón xong phải lấp đất và nếu đất quá khô phải tưới đủ ẩm.

- Phân vi sinh cũng có thể tẩm vào hạt, rễ cây trước khi gieo, trồng.

4. Nguyên lý sản xuất phân vi sinh 

 - Nguyên lý chung: Phân bón vi sinh vật được sản xuất bằng cách nhân sinh khối vi sinh vật trong môi trường và điều kiện thích hợp để đạt được một mật độ nhất định sau đó phối trộn với một chất nền, rồi xử lý bảo quản và đưa đi sử dụng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5.Một số loại phân vi sinh

5.1. Phân vi sinh cố định đạm

5.1.1.Phân vi sinh cố định nitơ cộng sinh với cây họ đậu (Nitragin)

Phân vi sinh Nitragin được sản xuất từ những chủng vi khuẩn có hoạt tính cố định đạm cao, bằng cách nhân và cố định chúng trong than bùn để sử dụng làm phân bón cho cây.

Loại phân vi sinh Nitragin thường dùng tẩm hạt cây họ đậu trước lúc gieo hoặc tưới vào gốc cây non vừa mọc được vài tuần.

Ảnh hưởng của phân vi sinh  này thể hiện ở nhiều mặt:

 - Làm tăng khả năng xâm nhập vi sinh cố định đạm vào rễ cây họ đậu 

 - Cố định nhiều nitơ cung cấp cho cây trồng

 - Cung cấp các men các chất điều hoà sinh trưởng ảnh hưởng đến sự chuyên hoá chất trong cây.

 - Còn làm tăng cấu tượng đất, tạo điều kiện dinh dưỡng tốt cho cây trồng ở vụ kế tiếp

Hiệu lực của chế phẩm phụ thuộc và nhiều yếu tố

 - Mật độ các chủng vi sinh vật nốt sần có ích trong đất

 - Sự phù hợp của dòng vi khuẩn xử lý và ký chủ

 - Điều kiện ngoại cảnh

5.1.1. Phân vi sinh chứa chủng vi sinh vật cố định nitơ sống hội sinh với cây lúa (Chế phẩm Azogin)

Là các chế phẩm vi sinh được chế tạo từ các chủng vi khuẩn nhóm Azospirillum

Chế phẩm Azogin có mật độ trung bình 109 tế bào vi khuẩn /1g chế phẩm, mật độ vi khuẩn tạp nhiễm không quá 106 tế bào vi khuẩn/1g chế phẩm. Chế phẩm Azogin được sản xuất bao gồm 3 - 4 chủng vi khuẩn có hoạt lực cố định nitơ cao để có thể hỗ trợ và sử dụng cho nhiều giống khác nhau.

Các phương pháp sử dụng Azogin bón cho lúa

 - Trộn chế phẩm với mầm mạ

 - Hồ chế phẩm và rễ mạ khi cây

 - Ủ chế phẩm với phân chuồng và đất bột trông 2 - 3 ngày rồi rắc đều mặt ruộng trước khí cấy

Trong đó theo nhiều thử nghiệm cho thấy phương pháp trộn chế phẩm với mầm mạ trước khi gieo có hiệu quả cao nhất. Sử dụng Azogin có tác dụng làm mạ cứng cây, chịu được rết, sau khi cấy lúa sinh trưởng nhanh, để nhánh nhiều, giảm sâu bệnh hại...

5.2. Phân vi sinh vật phân giải lân

Năm 1935 Menkina phát hiện ra vi sinh vật phân giải photpho được đặt tên là Bacillus megaterium var. phosphaticum. Sau đó FAO (1963) chứng minh rằng Bacillus megaterium var. phosphaticum cũng có thể làm cho các hợp chất lân vô cơ khó tan chuyển thành hợp chất lân vô cơ cây sử dụng được. Năm 1959, Katzneoson và cộng sự đã phát hiện ra nhóm vi khuẩn bacillus có khả năng hoà tan lân khó tan và phát triển nhóm vi khuẩn này thành dạng phân sinh học. Ngày nay người ta đã tìm thấy nhiều loại vi khuẩn có khả năng hoà tan lân như: predomonas spp, bacillus circulan, aspegillus spp, penixilium radium

Trên cơ sở đó một số chế phẩm sản xuất theo hướng dùng vi sinh vật tạo ra nguồn men nhân lên và dùng men để phân giải lân khó tiêu đã ra đời.

 

  

  

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sơ đồ: Quy trình sản xuất phân phân lân hữu cơ vi sinh vật

Hiệu quả của các loại phân lân hữu cơ vi sinh được mô tả trên nhiều mặt:

 - Các vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan ngoài khả năng chuyển hoá photphat vô cơ và còn có khả năng khoáng hoá các hợp chất lân hữu cơ tạo ra lân dễ tiêu cho cây và các sản phẩm mà cây trồng có thể sử dụng được.

 - Tăng cường sức hoạt động của các loại vi sinh vật trong đất

 - Cung cấp chất điều hoà sinh trưởng, cung cấp các chất kháng sinh học phòng chống sâu bệnh hại

Phân vi sinh vật phân giải lân thường được thường được sử dụng theo 2 cách:

 - Trộn lẫn với hạt giống trước khi gieo

 - Bón làm phân lót, theo hàng hoặc theo gốc cây.

5.3. Phân vi sinh phân giải xenluloza

Phân vi sinh vật phân giải xenluloza là loại phân có chứa các loại vi sinh vật phân giải xenluloza như: Steptomyces, trichoderma, chetomium. Nó có khả năng thúc đẩy quá trình phân huỷ phân giải xenluloza thành các chợp chất khoáng mà cây có thể sử dụng được.

Hiện nay đã có nhiều thành công từ sử dụng các chủng vi sinh vật này như:  Công nghệ Seraphin chế biến phân hữu cơ từ rác thải của công ty Cổ phần công nghệ môi trường xanh.Sản xuất phân hữu cơ vi sinh vật từ vỏ cà phê của nhóm sinh viên Phan Thị Thanh Hoài, Đặng Ngọc Khuê, Nguyễn Bá Dũng… Đại học Tây Nguyên đã được giải nhất cuộc thi “phát minh xanh Sony 2004. Sản phẩm phân bón tổng hợp được chế biến từ rác thải bùn ao, hồ, kênh mương trong làng nghề chế biến tinh bột sắn và rong riềng của anh Nguyễn Phi Sinh (Hà Tây), sản phẩm này đã được ngân hàng thế giới phối hợp bộ tài nguyên môi trường trao tặng giải thưởng Kawai (giải thưởng về ý tưởng kinh doanh)

Trên thế giới cũng đã có rất nhiều sản phẩm phân vi sinh vật có mật độ vi sinh vật hữu ích cao được sản xuất trên thế giới như: chế phẩm vi sinh phân giải chất hữu cơ Estrasol (Nga), Manna (Nhật).

Sản phẩm này chủ yếu dùng để bón lót trực tiếp vào đất.

5.4 Phân vi sinh vật được sản xuất theo xu hướng hỗn hợp

Hiên nay phân vi sinh vật được sản xuất theo xu hướng hỗn hợp các vi sinh vật có khả năng cố định nitơ, vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng và vi sinh vật đối kháng vi khuẩn/ vi nấm gây bệnh để phát huy hiệu quả cao hơn và có thể thích ứng với nhiều loại cây trồng. Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh vật chức năng này đem lại hiệu quả rất cao

Phân lân hữu cơ vi sinh Sông Hương được sản xuất trên nền chất mang là than bùn và bùn lọc với chất lượng than cao (độ tro 32%, lưu huỳnh 0,42%, Nitơ 0,8%, Axit Humic 27%, Độ pH =4, Độ phân huỷ 35%, Mùn 47%) cùng với các chủng vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải chất hữu cơ nhập ngoại từ Canada đã tạo ra loại phân lân hữu cơ vi sinh Sông Hương mang đầy đủ các chất dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu cây trồng bao gồm:

Lân hữu cơ 3%                        

Chất hữu cơ 10%

Bào tử vi sinh vật đạt 5 triệu bào tử/g phân

Ngoài ra còn một số các muối humat qua phản ứng trung hoà axit humic như Kali humic, humat amoni và các nguyên tố trung, vi lượng thích hợp để bón cho nhiều loại cây trồng. Loại phân này được công ty khuyến cáo bón lót 20 kg/sào trung bộ + 15 kg NPK cho đậu đỗ, bông vải đã làm tăng năng suất lên 15 - 20% so với đối chứng.

Lân hữu cơ sinh học Sông Gianh sản xuất theo quy trình công nghệ của Canada bao gồm các thành phần chính:

P2O5 tổng số > 3%;                   Chất hữu cơ >12%;

P2O5 hữu hiệu >1,5%;              Axit Humic > 1,5%;

Bào tử vi sinh vật 6.106- 6.108 con/gam: gồm 14 chủng men đã được thích ứng hoá (dạng cố định đạm ở dạng protein, dạng phân giải lân khó tiêu thành lân dễ tiêu, phân giải xenluloza)

Các nguyên tố trung, vi lượng Mg, Ca, Fe, Ni, Bo, Mo…

Các ezim, các chất kháng sinh diệt nấm, các chất kích thích sinh trưởng.

Đối với các cây họ đậu phân lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh có thể dùng để bón lót với 200kg/ha bón vào hốc hoặc bón vào rãnh lấp một lớp đất mỏng trước khi gieo hạt hoặc trồng cây con; bón thúc 150kg/ha kết hợp với N và K2O khi làm cỏ xới xáo và vun gốc. Sau đó tưới nước bảo đảm độ ẩm phù hợp cho từng loại cây

Phân hữu cơ vi sinh của Công ty hoá chất Quảng Bình được sản xuất trên cơ sở nguồn nguyên liệu than bùn, photphorit, men vi sinh và các phụ gia khác, dùng quy trình lên men ủ háo khí của Canada để thực hiện những quá trình chuyển hoá các hữu cơ và P2O5 khó tan thành mùn, NH3, P2O5 dễ tiêu mà cây trồng sử dụng được. Điều chỉnh độ ẩm, độ pH hợp lý, tỷ lệ các chất đưa vào phù hợp, vi sinh vật của Mỹ được nuôi cấy, nhân lên trong điều kiện đặc biệt, sau đó cho vào hỗn hợp nguyên liệu, ủ trong thời gian từ 15 - 20 ngày, nghiền thành bột mịn sau đó bổ sung thêm các chất vi lượng để cung cấp cho cây trồng tỷ lệ dinh dưỡng cân đối, đóng gói.

Thành phần của loại phân này gồm:

Đạm >1%;                                     

Lân tổng số >2,8%;

K2O >0,3%;                                    Ca +Mg >2%;

Mùn >10%;                                    Axit humic <2%;

Vi sinh vật cố định đạm 1.107tb/g;  Vi sinh vật phân giải lân 1.107tb/g;

Vi lượng (Fe, Zn, Mg, Bo, Mn).

Sản phẩm này được khuyến cáo bón lót cho các cây họ đậu 200 kg/ha. Sử dụng phân hữu cơ vi sinh Quảng Bình kết hợp với phân chuồng hoặc phân khoáng để bón, nếu không lượng bón trên tăng lên gấp đôi.

Hiện nay trên thị trường phân chuyên dùng Komix cũng đang được sử dụng nhiều. Thành phần chính của phân Komix là chất hữu cơ được ủ hoai bằng công nghệ vi sinh để chuyển hóa các chất hữu cơ khó tiêu thành chất dễ tiêu cho cây hấp thu. Ngoài ra còn được bổ sung các chất dinh dưỡng vô cơ thiết yếu,… gồm các nguyên tố đa lượng (đạm, lân, kali), các nguyên tố trung lượng (lưu huỳnh, can xi, ma giê) và các nguyên tố vi lượng (sắt, đồng, kẽm, bo, mangan, molipđen …). Mỗi chất với lượng vừa đủ theo nhu cầu của cây trồng, gọi là “phân bón chuyên cây”

Loại phân Komix chuyên dùng cho cây đậu phộng, đậu nành được khuyến cáo bón với lượng 1.000 kg/ha, bón lót 600 kg/ha khi gieo hạt, bón thúc lần một 300 kg/ha sau khi gieo 15 ngày và bón thúc lần hai 100 kg/ha sau khi gieo 30 ngày.