In trang

Những điều cần biết về tuyển sinh Đại học & Cao đẳng năm 2013
Cập nhật lúc : 15:26 16/03/2013

Bộ GD&ĐT công bố Quy chế thi THPT Quốc gia
Cập nhật lúc : 15:36 28/02/2015

Chiều 26/2, Bộ GD&ĐT công bố Quy chế thi THPT Quốc gia với các nội dung về quy định chung; chuẩn bị cho kỳ thi; đối tượng và điều kiện dự thi, tổ chức đăng ký dự thi, trách nhiệm của thí sinh; công tác đề thi; tổ chức coi thi; tổ chức chấm thi; tổ chức phúc khảo và chấm thẩm định...

Một số nội dung thí sinh cần lưu ý trong quy chế chính thức thi THPT quốc gia:

Môn thi

Tổ chức thi 8 môn: Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngoại ngữ.

1. Để xét công nhận tốt nghiệp THPT, thí sinh phải thi 4 môn, gồm 3 môn thi bắt buộc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và một môn do thí sinh tự chọn trong các môn thi còn lại.

Thí sinh không được học môn Ngoại ngữ hoặc học trong điều kiện không đảm bảo chất lượng được Giám đốc sở GD&ĐT xem xét, quyết định cho phép thí sinh chọn môn thi thay thế môn Ngoại ngữ trong số các môn tự chọn.

2. Để xét công nhận tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh ĐH, CĐ thí sinh dự thi 4 môn quy định tại khoản 1 Điều này và đăng ký dự thi thêm các môn phù hợp với tổ hợp các môn thi để xét tuyển sinh do trường ĐH, CĐ quy định.

3. Để xét tuyển sinh ĐH, CĐ, thí sinh đã tốt nghiệp THPT phải đăng ký dự thi các môn thi theo quy định của trường ĐH, CĐ đối với ngành đào tạo mà thí sinh có nguyện vọng.

Ngày thi, nội dung thi, lịch thi, hình thức thi và thời gian làm bài thi

1. Kỳ thi THPT quốc gia được tổ chức hằng năm. Ngày thi, lịch thi, hình thức thi và thời gian làm bài thi của mỗi môn thi được quy định trong hướng dẫn hằng năm của Bộ GD&ĐT.

2. Nội dung thi nằm trong chương trình THPT, chủ yếu là chương trình lớp 12.

Cụm thi

Bộ GD&ĐT tổ chức cụm thi, gồm:

1. Cụm thi cho các thí sinh dự thi để xét công nhận tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh ĐH, CĐ: tổ chức thi cho thí sinh của ít nhất 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh), do trường ĐH chủ trì, phối hợp với sở GD&ĐT;

2. Cụm thi cho các thí sinh dự thi để xét công nhận tốt nghiệp THPT: tổ chức thi tại trường hoặc liên trường phổ thông của tỉnh, do sở GD&ĐT chủ trì, phối hợp với trường ĐH.

Đối tượng và điều kiện dự thi

1. Đối tượng dự thi

a) Người đã học hết chương trình THPT trong năm tổ chức kỳ thi;

b) Người đã học hết chương trình THPT nhưng chưa thi tốt nghiệp hoặc đã thi nhưng chưa tốt nghiệp ở những năm trước; người đã tốt nghiệp THPT; người đã tốt nghiệp trung cấp; các đối tượng khác được Bộ GD&ĐT cho phép dự thi (gọi chung là thí sinh tự do).

2. Điều kiện dự thi

a) Các đối tượng dự thi không trong thời gian bị kỷ luật cấm thi; đăng ký dự thi và nộp đầy đủ, đúng thủ tục, đúng thời hạn các giấy tờ và lệ phí đăng ký dự thi theo quy định;

b) Đối tượng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này còn phải đảm bảo các điều kiện được đánh giá, xếp loại ở lớp 12: hạnh kiểm xếp loại từ trung bình trở lên, học lực không bị xếp loại kém. Riêng đối với người học GDTX thuộc diện không phải xếp loại hạnh kiểm và người học theo hình thức tự học có hướng dẫn thì không yêu cầu xếp loại hạnh kiểm.

c) Thí sinh tự do chưa tốt nghiệp THPT ngoài quy định tại điểm a khoản 2 Điều này còn phải đảm bảo các điều kiện:

- Đã tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS);

- Trường hợp không đủ điều kiện dự thi trong các năm trước do bị xếp loại kém về học lực ở lớp 12, phải đăng ký và dự kỳ kiểm tra cuối năm học tại trường phổ thông nơi học lớp 12 hoặc nơi đăng ký dự thi một số môn học có điểm trung bình dưới 5,0, đảm bảo khi lấy điểm bài kiểm tra thay cho điểm trung bình môn học để tính lại điểm trung bình cả năm đủ điều kiện về học lực theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

- Trường hợp không đủ điều kiện dự thi trong các năm trước do bị xếp loại yếu về hạnh kiểm ở lớp 12, phải được UBND cấp xã nơi cư trú xác nhận có đủ tư cách, phẩm chất đạo đức và nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương.

3. Hiệu trưởng trường THPT, Giám đốc Trung tâm GDTX (gọi chung là Hiệu trưởng trường phổ thông) hoặc nơi thí sinh nộp Phiếu đăng ký dự thi tổ chức xét duyệt hồ sơ đăng ký dự thi; chậm nhất trước ngày thi 20 ngày phải thông báo công khai những trường hợp không đủ điều kiện dự thi theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Tổ chức đăng ký dự thi      

1. Nơi đăng ký dự thi

a) Đối tượng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Quy chế này đăng ký dự thi tại trường phổ thông nơi học lớp 12;

b) Thí sinh tự do đăng ký tại địa điểm do sở GD&ĐT quy định. Đơn vị nơi thí sinh nộp Phiếu đăng ký dự thi có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 54 Quy chế này.

2. Thủ tục đăng ký dự thi

a) Hiệu trưởng trường phổ thông hoặc Thủ trưởng đơn vị nơi thí sinh nộp Phiếu đăng ký dự thi chịu trách nhiệm hướng dẫn đăng ký dự thi, thu Phiếu đăng ký dự thi, nhập thông tin thí sinh đăng ký dự thi, quản lý hồ sơ đăng ký dự thi và chuyển hồ sơ, dữ liệu đăng ký dự thi cho sở GD&ĐT;

b) Sở GD&ĐT quản trị dữ liệu đăng ký dự thi của thí sinh và gửi dữ liệu về Bộ GDĐT;

c) Bộ GD&ĐT quản trị dữ liệu đăng ký dự thi toàn quốc và chuyển dữ liệu về các Hội đồng thi để tổ chức thi.

3. Hồ sơ đăng ký dự thi đối với thí sinh chưa có bằng tốt nghiệp THPT

a) Đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Quy chế này:

- 2 Phiếu đăng ký dự thi giống nhau;

- Học bạ THPT; học bạ hoặc Phiếu kiểm tra của người học theo hình thức tự học đối với GDTX (bản sao);

- Các giấy chứng nhận hợp lệ để được hưởng chế độ ưu tiên, khuyến khích (nếu có). Để được hưởng chế độ ưu tiên liên quan đến nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, thí sinh phải có bản sao Sổ đăng ký hộ khẩu thường trú;

- 2 ảnh cỡ 4x6 cm và 2 phong bì đã dán sẵn tem và ghi rõ địa chỉ liên lạc của thí sinh.

b) Thí sinh tự do, ngoài các hồ sơ quy định tại điểm a khoản 3 Điều này phải có thêm:

- Giấy khai sinh (bản sao);

- Giấy xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú theo nội dung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Quy chế này nếu thuộc trường hợp không đủ điều kiện dự thi trong các năm trước do bị xếp loại yếu về hạnh kiểm ở lớp 12;

- Giấy xác nhận của trường phổ thông nơi học lớp 12 hoặc nơi đăng ký dự thi về xếp loại học lực đối với những học sinh xếp loại kém về học lực quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Quy chế này;

- Bằng tốt nghiệp THCS hoặc trung cấp (bản sao);

- Giấy xác nhận điểm bảo lưu (nếu có) do Hiệu trưởng trường phổ thông nơi thí sinh đã dự thi năm trước xác nhận.

4. Hồ sơ đăng ký dự thi đối với thí sinh tự do đã tốt nghiệp THPT: 

a) 2 Phiếu đăng ký dự thi giống nhau;

b) Bằng tốt nghiệp THPT hoặc trung cấp (bản sao);

c) 2 ảnh cỡ 4x6 cm và 2 phong bì đã dán sẵn tem và ghi rõ địa chỉ liên lạc của thí sinh.

5. Hạn cuối cùng nhận hồ sơ đăng ký dự thi: Trước ngày 30 tháng 4 hằng năm. Khi hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi, nếu phát hiện có nhầm lẫn, sai sót, thí sinh phải thông báo kịp thời cho Hiệu trưởng trường phổ thông hoặc Thủ trưởng đơn vị nơi đăng ký dự thi hoặc cho Hội đồng thi trong ngày làm thủ tục dự thi để sửa chữa, bổ sung.

Các trường hợp đặc biệt được phép bổ sung các loại giấy chứng nhận để được hưởng chế độ ưu tiên, hưởng cộng điểm khuyến khích phải thực hiện trước ngày tổ chức kỳ thi mới có giá trị.

6. Hồ sơ xét công nhận tốt nghiệp THPT được thí sinh hoàn thiện và nộp tại nơi đăng ký dự thi theo quy định trong hướng dẫn hằng năm của Bộ GD&ĐT.

Yêu cầu đối với đề thi

 

1. Đề thi của kỳ thi THPT quốc gia phải đạt các yêu cầu dưới đây:

a) Nội dung đề thi đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều 4 Quy chế này;

b) Đảm bảo phân loại được trình độ của thí sinh, vừa đáp ứng yêu cầu cơ bản (để tốt nghiệp THPT) và yêu cầu nâng cao (để tuyển sinh ĐH, CĐ);

c) Đảm bảo tính chính xác, khoa học và tính sư phạm. Lời văn, câu chữ phải rõ ràng;  

d) Đề thi tự luận phải ghi rõ số điểm của mỗi câu hỏi; điểm của bài thi tự luận và bài thi trắc nghiệm được quy về thang điểm 10;

đ) Đề thi phải ghi rõ có mấy trang (đối với đề thi có từ 02 trang trở lên) và có chữ "HẾT" tại điểm kết thúc đề.

2. Trong một kỳ thi, mỗi môn thi có đề thi chính thức và đề thi dự bị với mức độ tương đương;mỗi đề thi có hướng dẫn chấm, đáp án kèm theo.

Hội đồng ra đề thi

 

1. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định thành lập Hội đồng ra đề thi kỳ thi THPT quốc gia (gọi tắt là Hội đồng ra đề thi).

2. Thành phần Hội đồng ra đề thi

a) Chủ tịch Hội đồng: Lãnh đạo Cục KTKĐCLGD;

b) Phó Chủ tịch Hội đồng: Phó Cục trưởng Cục KTKĐCLGD, lãnh đạo các đơn vị khác thuộc Bộ GD&ĐT và lãnh đạo Phòng Khảo thí thuộc Cục KTKĐCLGD;

c) Ủy viên, thư ký: Cán bộ, công chức các đơn vị thuộc Bộ GDĐT; trong đó, ủy viên thường trực là lãnh đạo Phòng Khảo thí thuộc Cục KTKĐCLGD;

d) Các cán bộ soạn thảo đề thi và phản biện đề thi là giảng viên các trường ĐH, CĐ, nghiên cứu viên các viện nghiên cứu, giáo viên trường phổ thông. Mỗi môn thi có một tổ ra đề thi gồm Trưởng môn đề thi và các cán bộ soạn thảo đề thi;

đ) Lực lượng bảo vệ: Cán bộ do Bộ Công an và Bộ GD&ĐT điều động.

Những người có người thân dự thi trong năm tổ chức thi không được tham gia Hội đồng ra đề thi.

 Làm thủ tục dự thi cho thí sinh

1. Căn cứ dữ liệu thí sinh đăng ký dự thi tại cụm thi, Ban Thư ký Hội đồng thi hoàn thành danh sách thí sinh (kể cả Danh sách ảnh của thí sinh) của từng phòng thi; làm Thẻ dự thi; xác định địa điểm làm thủ tục dự thi cho thí sinh.

2. Trong ngày làm thủ tục dự thi, theo đúng lịch đã công bố, Trưởng điểm thi phân công cán bộ hướng dẫn thí sinh làm thủ tục dự thi phổ biến quy chế thi; ghi xác nhận những sai sót về họ, tên, đối tượng, hộ khẩu thường trú, khu vực của thí sinh và chuyển những thông tin này cho Ban Thư ký Hội đồng thi xem xét, cập nhật vào phần mềm quản lý thi.

Chấm bài thi tự luận

Chấm thi theo hướng dẫn chấm, đáp án, thang điểm của Bộ GDĐT. Bài thi được chấm theo thang điểm 10, lấy đến 0,25; không quy tròn điểm.

Miễn thi các môn trong xét công nhận tốt nghiệp THPT

1. Miễn thi môn ngoại ngữ

a) Đối tượng miễn thi

- Là thành viên đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế môn Ngoại ngữ theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ GDĐT.

- Có một trong các chứng chỉ theo quy định của Bộ GD&ĐT.

b) Thí sinh được miễn thi môn Ngoại ngữ được tính 10 điểm cho môn này để xét công nhận tốt nghiệp THPT.  

c) Thí sinh không sử dụng quyền được miễn thi môn Ngoại ngữ thì phải dự thi và xét công nhận tốt nghiệp THPT như thí sinh không được miễn thi.

d) Hiệu trưởng trường ĐH, CĐ quyết định việc sử dụng hay không sử dụng kết quả miễn thi môn ngoại ngữ trong kỳ thi THPT quốc gia để tuyển sinh.

2. Miễn thi cả 4 môn thi trong xét tốt nghiệp THPT

a) Đối tượng

- Người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ;

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;

- Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, bản thân bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

b) Điều kiện

- Đối với người khuyết tật học theo chương trình giáo dục chung:

+ Học hết chương trình THPT; đủ điều kiện dự thi theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Quy chế này;

+ Có giấy xác nhận khuyết tật do cơ quan có thẩm quyền cấp.

- Đối với người khuyết tật không đáp ứng được chương trình giáo dục chung:

+ Được Hiệu trưởng trường phổ thông nơi đăng ký học tập xác nhận kết quả thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân từng năm ở cấp THPT;

+ Có giấy xác nhận khuyết tật do cơ quan có thẩm quyền cấp.

- Đối với người hoạt động kháng chiến, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học:

+ Học hết chương trình THPT; đủ điều kiện dự thi theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Quy chế này;

+ Có giấy xác nhận bị nhiễm chất độc hóa học và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Miễn thi tất cả các môn của kỳ thi THPT quốc gia

1. Người đã tham gia kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế hoặc Olympic khu vực các môn văn hoá được miễn thi tất cả các môn của kỳ thi THPT quốc gia nếu đáp ứng các điều kiện sau:

a) Được triệu tập vào học kỳ 2 lớp 12;

b) Xếp loại cả năm lớp 12: hạnh kiểm loại tốt, học lực từ loại khá trở lên;

c) Có tên trong danh sách miễn thi của Bộ GD&ĐT.

2. Người trong đội tuyển tham gia các cuộc thi Olympic quốc tế hoặc khu vực về khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, văn hoá văn nghệ được miễn thi tất cả các môn của kỳ thi THPT quốc gia nếu đáp ứng các điều kiện sau:

a) Được triệu tập vào học kỳ 2 lớp 12;

b) Xếp loại cả năm lớp 12: hạnh kiểm và học lực từ loại trung bình trở lên;

c) Có tên trong công văn đề nghị miễn thi và xác nhận tham dự tập huấn và dự thi đúng quy định của cơ quan tuyển chọn gửi đến sở GD&ĐT trước ngày thi THPT quốc gia.

Đặc cách tốt nghiệp THPT

1. Đối tượng và điều kiện:

Người học thuộc các đối tượng quy định tại Điều 12 Quy chế này nếu đủ điều kiện dự thi được xét đặc cách tốt nghiệp THPT trong các trường hợp sau:

a) Bị tai nạn, bị ốm hoặc có việc đột xuất đặc biệt, không quá 10 ngày trước ngày thi hoặc ngay trong buổi thi đầu tiên, không thể dự thi.

- Điều kiện: xếp loại về học lực và hạnh kiểm cả năm ở lớp 12 đều từ khá trở lên;

- Hồ sơ:

+ Hồ sơ nhập viện, ra viện do bệnh viện từ cấp huyện trở lên cấp (nếu bị tai nạn, bị ốm) hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú (nếu có việc đột xuất đặc biệt);

+ Biên bản đề nghị xét đặc cách tốt nghiệp của trường phổ thông nơi đăng ký dự thi.

b) Bị tai nạn, bị ốm hay có việc đột xuất đặc biệt sau khi đã thi ít nhất một môn và không thể tiếp tục dự thi hoặc sau khi bị tai nạn, bị ốm hay có việc đột xuất đặc biệt tự nguyện dự thi số môn thi còn lại.

- Điều kiện:

+ Điểm bài thi của những môn đã thi để xét công nhận tốt nghiệp đều đạt từ 5,0 trở lên;

+ Xếp loại ở lớp 12: học lực từ trung bình trở lên, hạnh kiểm từ khá trở lên.

- Hồ sơ:

+ Đơn đề nghị xét đặc cách của thí sinh;

+ Hồ sơ nhập viện, ra viện của bệnh viện từ cấp huyện trở lên (nếu bị tai nạn, bị ốm) hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú (nếu có việc đột xuất đặc biệt).

2. Thủ tục:

a) Chậm nhất 7 ngày sau buổi thi cuối cùng của kỳ thi, thí sinh phải nộp hồ sơ đặc cách cho Thủ trưởng đơn vị nơi thí sinh đăng ký dự thi. Thủ trưởng đơn vị nơi thí sinh đăng ký dự thi chịu trách nhiệm thu nhận và chuyển giao hồ sơ đặc cách cho sở GDĐT;

b) Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp THPT xem xét, quyết định đặc cách cho thí sinh căn cứ hồ sơ và các quy định tại khoản 1 Điều này.

Bảo lưu điểm thi

1. Điểm thi được bảo lưu như sau:

Thí sinh dự thi đủ các môn quy định trong kỳ thi năm trước nhưng chưa tốt nghiệp THPT và không bị kỷ luật huỷ kết quả thi thì được bảo lưu điểm thi của các môn thi đạt từ 5,0 điểm trở lên trong kỳ thi tổ chức năm tiếp ngay sau đó để xét công nhận tốt nghiệp THPT.

2. Thí sinh không sử dụng điểm bảo lưu thì phải thi tất cả các môn đã đăng ký để xét công nhận tốt nghiệp THPT như thí sinh không có điểm bảo lưu.

3. Hiệu trưởng trường ĐH, CĐ quyết định việc có sử dụng hay không sử dụng điểm bảo lưu trong kỳ thi THPT quốc gia để tuyển sinh.

Điểm ưu tiên, khuyến khích

1. Điểm ưu tiên

Điểm ưu tiên để xét công nhận tốt nghiệp THPT được tính theo 3 diện (Diện 1, Diện 2, Diện 3); trong đó, thí sinh Diện 2, Diện 3 được cộng điểm ưu tiên như sau:

a) Diện 2: cộng 0,25 điểm đối với thí sinh thuộc một trong những đối tượng sau:

- Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị suy giảm khả năng lao động dưới 81% (đối với GDTX);

- Con của thương binh, bệnh binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị suy giảm khả năng lao động dưới 81%; Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động;  

- Người dân tộc thiểu số;

- Người Kinh, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có hộ khẩu thường trú từ 3 năm trở lên (tính đến ngày tổ chức kỳ thi) ở xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu thuộc diện đầu tư của chương trình 135; ở xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ; ở thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi theo quy định hiện hành của Ủy ban Dân tộc, học tại các trường phổ thông không nằm trên địa bàn các quận nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương ít nhất 2 phần 3 thời gian học cấp THPT;

- Người bị nhiễm chất độc màu da cam; con của người bị nhiễm chất độc màu da cam; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người được cơ quan có thẩm quyền công nhận bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc lao động do hậu quả của chất độc hoá học;

- Con của người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 (đối với GDTX);

- Có tuổi đời từ 35 trở lên, tính đến ngày thi (đối với GDTX).

b) Diện 3: cộng 0,5 điểm đối với thí sinh thuộc một trong những đối tượng sau:

- Người dân tộc thiểu số, bản thân có hộ khẩu thường trú ở xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu thuộc diện đầu tư của chương trình 135; ở xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ; ở thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III thuộc vùng dân tộc và miền núi theo quy định hiện hành của Ủy ban Dân tộc, đang học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú hoặc các trường phổ thông không nằm trên địa bàn các quận nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương;

- Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên (đối với GDTX);

- Con của liệt sĩ; con của thương binh, bệnh binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

c) Thí sinh có nhiều tiêu chuẩn ưu tiên chỉ được hưởng theo tiêu chuẩn ưu tiên cao nhất. Những trường hợp đặc biệt sẽ do Bộ trưởng Bộ GDĐT xem xét, quyết định.

2. Điểm khuyến khích

Người học tham gia các cuộc thi và các hoạt động dưới đây được cộng điểm khuyến khích để xét công nhận tốt nghiệp THPT với mức điểm như sau:

a) Đoạt giải cá nhân trong kỳ thi chọn học sinh giỏi các môn văn hoá lớp 12:

- Đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi quốc gia hoặc giải nhất cấp tỉnh: cộng 2,0 điểm;

- Giải khuyến khích trong kỳ thi quốc gia hoặc giải nhì cấp tỉnh: cộng 1,5 điểm;

- Giải ba cấp tỉnh: cộng 1,0 điểm.

b) Đoạt giải cá nhân và đồng đội trong các kỳ thi thí nghiệm thực hành môn Vật lí, Hoá học, Sinh học; thi văn nghệ; thể dục thể thao; hội thao giáo dục quốc phòng; cuộc thi khoa học kỹ thuật; viết thư quốc tế do ngành Giáo dục phối hợp với các ngành chuyên môn từ cấp tỉnh trở lên tổ chức ở cấp THPT:

- Giải cá nhân:

+ Đoạt giải nhất, nhì, ba quốc gia hoặc giải nhất cấp tỉnh hoặc Huy chương Vàng: cộng 2,0 điểm;

+ Giải khuyến khích quốc gia hoặc giải nhì cấp tỉnh hoặc Huy chương Bạc: cộng 1,5 điểm;

+ Huy chương Đồng: cộng 1,0 điểm;

- Giải đồng đội:

+ Chỉ cộng điểm đối với giải quốc gia;

+ Số lượng cầu thủ, vận động viên, diễn viên của giải đồng đội từ 02 đến 22 người theo quy định cụ thể của Ban Tổ chức từng giải;

+ Mức điểm khuyến khích được cộng cho các cá nhân trong giải đồng đội được thực hiện như đối với giải cá nhân quy định tại điểm này;

- Những người học đoạt nhiều giải khác nhau trong nhiều cuộc thi chỉ được hưởng một mức cộng điểm của loại giải cao nhất.

c) Học sinh giáo dục THPT, học viên GDTX trong diện xếp loại hạnh kiểm có giấy chứng nhận nghề do sở GDĐT hoặc các cơ sở giáo dục đào tạo và dạy nghề do ngành Giáo dục cấp trong thời gian học THPT, được cộng điểm khuyến khích căn cứ vào xếp loại ghi trong chứng nhận như sau:

- Loại giỏi: cộng 2,0 điểm;

- Loại khá: cộng 1,5 điểm;

- Loại trung bình: cộng 1,0 điểm.

d) Học viên GDTX có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc tin học được cấp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian học THPT: cộng 1,0 điểm đối với mỗi loại chứng chỉ.

đ) Nếu thí sinh đồng thời có nhiều loại giấy chứng nhận để được cộng điểm khuyến khích theo quy định tại khoản 2 Điều này cũng chỉ được hưởng mức điểm cộng thêm nhiều nhất là 4,0 điểm.

e) Điểm khuyến khích quy định tại các điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều này được bảo lưu trong toàn cấp học và được cộng vào điểm bài thi để xét công nhận tốt nghiệp cho thí sinh.

Điểm xét tốt nghiệp THPT

1. Điểm xét tốt nghiệp (ĐXTN): gồm điểm 4 bài thi thí sinh đăng ký để xét công nhận tốt nghiệp, điểm ưu tiên, khuyến khích (nếu có) và điểm trung bình cả năm lớp 12; được tính theo công thức sau:            


2. Điểm xét tốt nghiệp được lấy đến hai chữ số thập phân, do phần mềm máy vi tính tự động thực hiện.

Công nhận tốt nghiệp THPT

Những thí sinh đủ điều kiện dự thi, không bị kỷ luật từ mức huỷ bài thi trở lên, tất cả các bài thi đều đạt trên 1,0 điểm và có ĐXTN từ 5,0 điểm trở lên được công nhận tốt nghiệp THPT.

Duyệt công nhận tốt nghiệp THPT

1. Hồ sơ duyệt công nhận tốt nghiệp THPT bao gồm:

a) Bảng ghi thông tin xét công nhận tốt nghiệp THPT;

b) Danh sách thí sinh được đề nghị công nhận tốt nghiệp;

c) Danh sách và hồ sơ thí sinh được đặc cách tốt nghiệp, miễn thi, được tốt nghiệp do phúc khảo hoặc giải quyết khiếu nại về hồ sơ thi;

d) Đĩa CD chứa dữ liệu thi;

đ) Những biên bản liên quan;

e) Các loại hồ sơ khác theo hướng dẫn hằng năm của Bộ GD&ĐT.

2. Trình tự duyệt công nhận tốt nghiệp

a) Giám đốc sở GD&ĐT duyệt công nhận tốt nghiệp và chịu trách nhiệm trước Bộ GD&ĐT về kết quả công nhận tốt nghiệp của tỉnh mình;

b) Sau khi báo cáo Bộ GD&ĐT, Giám đốc sở GD&ĐT công bố kết quả công nhận tốt nghiệp và thông báo cho các trường phổ thông để niêm yết danh sách tốt nghiệp và cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời cho thí sinh;

c) Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời do Hiệu trưởng trường phổ thông ký và có giá trị đến khi được cấp Bằng tốt nghiệp THPT chính thức;

d) Các sở GD&ĐT gửi Danh sách thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT về Bộ GD&ĐT ngay sau khi kết thúc kỳ thi để quản lý, theo dõi.

Theo GDTD

Nguồn: Website Sở GD&ĐT 

 

 

HỘI THI NỮ GIÁO VIÊN SÁNG TẠO NĂM 2014
Cập nhật lúc : 10:20 11/06/2014

Thông báo môn thi thứ 3 - Tuyển sinh vào lớp 10 công lập tại TP Huế
Cập nhật lúc : 08:26 11/05/2013

THÔNG BÁO TUYỂN SINH LỚP 10, NĂM HỌC 2017-2018
Cập nhật lúc : 09:39 22/05/2017

Chỉ tiêu tuyển sinh: 588 học sinh/14 lớp.

Hình thức tuyển sinh: Xét tuyển.

Ngày phát hành hồ sơ: 24/5/2017.

Thời gian nhận hồ sơ: Từ 8h00 ngày 26/5/2017 đến 16h00 ngày 01/6/2017.

Hồ sơ gồm:

+ Phiếu đăng kí dự tuyển (theo mẫu của trường).

+ Bản chính Học bạ THCS.

+ Bản sao giấy khai sinh.

+ Giấy chứng nhận tốt nghiệp THCS (tạm thời).

+ Các loại giấy chứng nhận để hưởng điểm ưu tiên, khuyến khích (nếu có).

Ban Tuyển sinh trường THPT Bùi Thị Xuân.

Thông tin giáo dục và đào tạo_Quý I năm 2017
Cập nhật lúc : 14:20 12/05/2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN 9 NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÀNH

Ngày 26/8/2016, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã ký ban hành Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục. Theo đó, năm học 2016 - 2017 và những năm tiếp theo, toàn ngành sẽ tập trung triển khai 9 nhiệm vụ chủ yếu và 5 giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục và đào tạo.

Quý I năm nay, toàn ngành Giáo dục tiếp tục triển khai 9 nhiệm vụ chủ yếu và đạt được những kết quả tích cực:

1.1. Rà soát, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước

Để có cơ sở cho công tác rà soát, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước, đến nay, bộ chuẩn quy hoạch cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông cấp tỉnh, thành phố đã hoàn thành dự thảo, chuẩn bị xin ý kiến các Bộ ngành liên quan để tiếp thu, hoàn thiện trước khi ban hành. 

Nội dung chính của bộ quy chuẩn được xây dựng ở hai cấp độ, cấp hệ thống và cấp cơ sở giáo dục bao gồm cơ sở giáo dục bậc Mầm non, cơ sở giáo dục bậc Tiểu học, cơ sở giáo dục bậc Trung học cơ sở, cơ sở giáo dục bậc Trung học phổ thông. Trong đó, Phần I quy chuẩn chung, áp dụng cho hệ thống giáo dục; Phần II áp dụng đối với cấp cơ sở giáo dục. Mỗi quy chuẩn có 3 mức đạt được. Một hệ thống/mạng lưới giáo dục có thể ở nhiều mức khác nhau, tùy thuộc thế mạnh riêng. Không nhất thiết toàn bộ các quy chuẩn phải đạt cùng một mức.

Bộ quy chuẩn được sử dụng để rà soát đối với toàn bộ các cơ sở giáo dục hiện có trong hệ thống/mạng lưới. Kết quả rà soát sẽ cho biết mức độ đạt chuẩn của toàn bộ hệ thống/mạng lưới, lĩnh vực hệ thống/mạng lưới đạt mức tối thiểu (đại trà) và các mức cao hơn, những cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn, những tiêu chí/lĩnh vực cơ sở giáo dục chưa đạt hoặc khó đạt; khoảng cách thực trạng so với Quy chuẩn.

1.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp

Bộ đã và đang chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025, nhằm nâng cao toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; nâng cao năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm, ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo.

 Tiếp tục triển khai Chương trình phát triển các trường sư phạm, tăng cường hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong đào tạo giáo viên, thực hiện kiểm định và công khai chất lượng các cơ sở đào tạo giáo viên để xã hội giám sát qua đó nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

Rà soát, sửa đổi các chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn hiệu trưởng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo các yêu cầu mới.

Các địa phương đã và đang xây dựng, triển khai đề án vị trí việc làm, chuyển xếp hạng cho giáo viên, đánh giá viên chức để rà soát, sàng lọc và tinh giảm biên chế theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ; nhiều địa phương đã có những phương án bố trí giáo viên, nhân viên trường học một cách linh hoạt để tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả biên chế.

Bộ đã chỉ đạo 2 trường đại học sư phạm lớn nghiên cứu, dự báo nhu cầu đào tạo giáo viên giai đoạn 2017-2025 để đề xuất giảm chỉ tiêu tuyển sinh sư phạm, quy hoạch lại mạng lưới các trường sư phạm; trên cơ sở đó, năm 2017, Bộ đã yêu cầu các cơ sở đào tạo giáo viên giảm 20% chỉ tiêu tuyển sinh so với năm 2016.

1.3. Công tác phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông

Bộ đã tiến hành rà soát về Chương trình giáo dục hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông, xác định những hạn chế, bất cập để để xuất các biện pháp khắc phục.

Tiếp tục hướng dẫn các địa phương, cơ sở giáo dục chủ động xây dựng và thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành một cách nghiêm túc nhưng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Chủ động đổi mới nội dung và phương thức giáo dục hướng nghiệp phù hợp với đối tượng học sinh và đặc điểm ngành, nghề tại địa phương. Đổi mới phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng mục tiêu phân luồng học sinh, nhất là phân luồng sau trung học cơ sở.

Tổ chức Hội thảo đánh giá tình hình triển khai thí điểm mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa phương, mô hình phối hợp giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đào tạo kỹ năng nghề trong chương trình hướng nghiệp.

Đến nay đã hoàn thành việc khảo sát thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông tại 10 tỉnh/thành phố: Lào Cai, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang để chuẩn bị cho công tác xây dựng Đề án "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông".

1.4. Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo

Triển khai kế hoạch nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 - 2020, đến nay đề cương chi tiết và dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 - 2020 và những năm tiếp theo đã được hoàn thiện.

 Kế hoạch triển khai các hoạt động năm 2017 đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các trường và đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được xây dựng. Trong đó, nhấn mạnh tới chương trình bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh khối phổ thông, rà soát và hoàn thiện các chương trình đào tạo và nhiều hoạt động khác theo bốn nhóm nhiệm vụ dành cho người dạy, người học, kiểm tra, đánh giá và điều kiện dạy và học ngoại ngữ.

Bộ đã có hướng dẫn gửi các địa phương, các cơ sở giáo dục về việc dạy chương trình tiếng Anh cấp tiểu học với các lưu ý: Dạy đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh, trong đó tập trung phát triển hai kỹ năng nghe và nói. Đa dạng hình thức dạy và học tiếng Anh, tạo nhiều cơ hội và môi trường thuận lợi cho học sinh được học và giao tiếp bằng tiếng Anh. Về cơ bản, học sinh khối lớp 3, 4 và 5 được học 4 tiết/tuần; những nơi có điều kiện, học sinh khối lớp 3, 4 và 5 được học tiếng Anh trên 4 tiết/tuần và học sinh lớp 1, lớp 2 được học hoặc làm quen tiếng Anh.

Đội ngũ giáo viên tiếng Anh được quan tâm, tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ bằng nhiều hình thức, trong đó chú trọng học qua mạng và tự học.

1.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục

Trong thời gian qua, để hoàn chỉnh hành lang pháp lý về ứng dụng CNTT trong ngành, nhiều văn bản đã được ban hành và triển khai thực hiện, tiêu biểu nhất là Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đến năm 2020”. Đề án này đã xác định được phương hướng, nội dung, giải pháp, cách thức tổ chức thực hiện ứng dụng CNTT toàn ngành giáo dục trong thời gian tới.

Bộ cũng đã ban hành Kế hoạch ứng dụng CNTT của Bộ giai đoạn 2016 - 2020, xác định rõ các nhiệm vụ CNTT trọng tâm để triển khai trong những năm tới. Bên cạnh đó, Kế hoạch triển khai Nghị quyết 36a của Chính phủ về Chính phủ điện tử ban hành từ 2016 tiếp tục được triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng lộ trình. Như vậy, công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược ứng dụng CNTT đã được ban hành kịp thời, làm cơ sở pháp lý triển khai các nhiệm vụ.

Tháng 3/2017, chỉ số ICT Index của Bộ (do Hội Tin học Việt Nam và Bộ Thông tin và Truyền thông công bố) đã tăng vượt bậc trong khối các bộ ngành, từ thứ 12 lên thứ 3, chỉ sau Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà nước. Kết quả này phản ánh sự quan tâm sát sao của lãnh đạo Bộ, sự nỗ lực rất lớn của các đơn vị chuyên môn trong thời gian qua.

Một số ứng dụng công nghệ thông tin đã được triển khai trong toàn ngành như hoàn thành và đưa vào sử dụng hiệu quả Cổng tuyển sinh của Bộ; phần mềm tuyển sinh, lọc ảo phục vụ kỳ tuyển sinh 2017; phần mềm quản lý ngân hàng câu hỏi và đề thi phục vụ kỳ thi THPT quốc gia; Cổng công khai thông tin giáo dục đại học phục vụ công tác bảo đảm chất lượng, tự chủ đại học, chuẩn bị đưa vào sử dụng chính thức.

Dự án xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu toàn ngành về giáo dục đại học đang chuẩn bị được phê duyệt; cơ sở dữ liệu toàn ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên đã hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi; Bên cạnh đó, đã khởi động triển khai các dự án xây dựng hệ thống tập huấn qua mạng dùng chung của Bộ, hệ thống thông tin phục vụ công tác thi đua khen thưởng, hệ thống thi cấp chứng chỉ ứng dụng CNTT tập trung trực tuyến và nhiều dự án khác.

1.6. Đẩy mạnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học

Sau gần 2 năm thí điểm tự chủ theo Nghị quyết 77, hệ thống giáo dục đại học có những chuyển biến tích cực không chỉ trong 16 trường được thí điểm tự chủ mà còn có tác động tích cực trong cả hệ thống.

Chất lượng đào tạo có chuyển biến rõ rệt. Nhiều trường đã tích cực chủ động phát triển chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế; đã triển khai xây dựng và công bố công khai chuẩn đầu ra và kiểm soát kết quả đầu ra. Ở trình độ đại học, các trường đã đào tạo gần 250 ngành/chương trình đào tạo chất lượng cao, trong đó có 70 chương trình đạt chất lượng kiểm định quốc tế.

Nhiều trường đã chủ động và thực hiện hiệu quả hoạt động hội đồng trường trong liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học; mở rộng các chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên; bước đầu hình thành và phát triển việc chuyển đổi, công nhận tín chỉ với các trường của quốc gia khác thông qua các chương trình, dự án. 

Công tác đảm bảo chất lượng được chú trọng. Hầu hết các trường đã tăng cường công tác đảm bảo chất lượng, các điều kiện đảm bảo chất lượng. Đã có 33 trường đã được đánh giá ngoài và 16 trường đã được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam.

Các trường cũng tích cực đổi mới quản trị đại học. Thành lập mới Hội đồng trường, tạo tiền đề cần thiết cho việc triển khai thực hiện chủ trương tự chủ đại học. Đồng thời, nhận thức rõ hơn về trách nhiệm xã hội và chú trọng thực hiện cam kết đối với người học.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập, trong đó quy định các cơ sở giáo dục đại học công lập phải thực hiện xây dựng phương án thu chi tài chính, lộ trình tự đảm bảo kinh phí hoạt động.

1.7. Hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo

Thời gian qua, Bộ tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan lĩnh vực hợp tác và hội nhập quốc tế, trong đó Nghị định số 73/2012/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục đã được xây dựng và đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến rộng rãi dư luận trước khi ban hành.

Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2020, tập trung thực hiện đầu tư xây dựng các trường đại học xuất sắc; ban hành quy chế quản lý người nước ngoài học tập tại Việt Nam và quy chế quản lý công dân Việt Nam học tập ở nước ngoài.

Ngoài ra, nhiều hiệp định, thỏa thuận với nước ngoài về hợp tác giáo dục, công nhận văn bằng, tín chỉ đã được ký kết, tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong giáo dục. Việc hướng dẫn, giải quyết các thủ tục liên quan đến hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục được quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút, tranh thủ các nguồn lực, kinh nghiệm quý của nước ngoài.

Thí điểm một số mô hình giáo dục tiên tiến, chương trình giảng dạy, sách giáo khoa, phương thức kiểm tra, đánh giá học sinh của nước ngoài ở các bậc học phổ thông. Thực hiện các chính sách thu hút lưu học sinh nước ngoài đến Việt Nam học tập. Khuyến khích các trường đại học, cao đẳng và trung cấp tiếp nhận chuyển giao chương trình tiên tiến của nước ngoài, sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy, tăng cường thu hút chuyên gia nước ngoài và đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức khu vực và quốc tế, học tập kinh nghiệm của các quốc gia thành công trong giáo dục để tiếp thu chọn lọc áp dụng vào Việt Nam.

1.8. Tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng các hoạt động giáo dục và đào tạo

Để tiếp tục thực hiện kiên cố hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 - 2015 và lộ trình đến 2020 trình Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn các địa phương thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng, thẩm định chủ trương đầu tư các công trình thuộc danh mục Đề án, xây dựng phương án phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ dự phòng giai đoạn 2012 - 2015 cho các địa phương thực hiện Đề án.

Để bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị trường học thực hiện chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục phổ thông theo lộ trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2025.

Hiện nay, Bộ đang tiến hành rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quy định, hướng dẫn về chuẩn cơ sở vật chất trường học và trang thiết bị dạy học. Xây dựng văn bản hướng dẫn triển khai đầu tư và phân bổ vốn đầu tư ngân sách năm 2017 cho các đơn vị trực thuộc Bộ để xây dựng tăng cường cơ sở vật chất theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, hướng dẫn các địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới thuộc phạm vi của ngành giáo dục.

1.9. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Để phát triển nguồn nhân lực, thời gian qua, ngành giáo dục đã quan tâm tới phát triển giáo dục phổ thông chất lượng cao, tạo nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nhân lực chất lượng cao nói riêng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung.

Hệ thống trường Chuyên trong cả nước tiếp tục được quan tâm đầu tư, trong đó có những trường đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt, so sánh chất lượng giáo dục phổ thông quốc tế cho thấy kết quả thi của Việt Nam khá cao so trong bảng xếp hạng các nước trên thế giới tham gia kỳ đánh giá PISA. Kỳ PISA 2015 mới nhất Việt Nam xếp thứ 8 về lĩnh vực khoa học trên tổng số 72 quốc gia tham gia đánh giá với những thế mạnh nổi bật về Toán, đọc hiểu và khoa học.

Từng bước điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Các chương trình kỹ sư chất lượng cao, chương trình kỹ sư, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến được nhiều trường đại học quan tâm phát triển. Cụ thể, 35 chương trình tiên tiến đã được triển khai ở 23 trường đại học, 16 chương trình kỹ sư chất lượng cao ở 4 trường và khoảng 200 chương trình chất lượng cao khác đang được thực hiện ở một số trường đại học.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục xây dựng Đề án Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế nhằm tăng thêm các chương trình đào tạo chất lượng cao ngày càng tiệm cận với chuẩn quốc tế, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dự thảo Thông tư quy định về Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học, đồng thời ban hành kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục đại học năm 2017 để đẩy mạnh công tác này. Kiểm định và công khai kết quả kiểm định cùng với sự minh bạch thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng của cơ sở đào tạo đang trở thành một trong những tiêu chí để các trường đại học xác định quy mô đào tạo và điều kiện tuyển sinh, từng bước nâng cao chất lượng. Quy chế đào tạo tiến sĩ mới (Thông tư 08/2017/TT-BGDĐT) và quy định về mở ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ  (Thông tư 09/2017/TT-BGDĐT) vừa được ban hành đang góp phần hoàn thiện hệ thống các quy định nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học.

Hiện nay, việc các trường đại học tích cực ban hành các chuẩn đầu ra và bước đầu khảo sát, công khai thống kê việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp cho thấy việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đang có những bước đi bài bản, thực chất, gắn với hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong thực tiễn.

CÁC HOẠT ĐỘNG NỔI BẬT CỦA NGÀNH

2.1. Xây dựng dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Sau một thời gian chuẩn bị, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã hoàn thành và được công bố rộng rãi ngày 12/4/2017 để lấy ý kiến dư luận trước khi được ban hành chính thức vào tháng 9/2017.

Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.

Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; hình thành phương pháp học tập, hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động.

Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của người lao động, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm. Đồng thời hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất. Bên cạnh đó, chương trình còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh.

Với tiến độ triển khai như hiện nay thì chương trình sách giáo khoa mới dự kiến vẫn sẽ được bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 theo kế hoạch. Để chuẩn bị về đội ngũ giáo viên, Bộ đang triển khai dự án Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP). Các trường sư phạm cũng đang tiến hành đổi mới chương trình đào tạo sư phạm. Ban Phát triển Chương trình sẽ viết các tài liệu tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên và tham gia trực tiếp công tác này.

Vấn đề được quan tâm nhất hiện nay là sự chuẩn bị cơ sở vật chất của địa phương. Theo thiết kế chương trình mới, học sinh tiểu học sẽ học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, hiện tại, chỉ 47% các trường tiểu học học được 10 buổi/tuần. Trên 30% chỉ học 6 buổi/tuần. Có trên 20% chỉ học được 5 buổi/tuần. Thời gian tới các địa phương cần giải quyết tốt vấn đề cơ sở vật chất để đảm bảo việc triển khai chương trình mới thành công.

2.2. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia và xét tuyển đại học năm 2017

Sau khi ban hành Quy chế thi THPT quốc gia và xét tuyển đại học năm 2017, đầu tháng 2, Bộ đã có công văn gửi các sở giáo dục và đào tạo, các đại học, học  viện, các trường đại học, cao đẳng về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2017.

Đặc biệt sau khi xem xét, cân nhắc thời gian thi phù hợp và thuận lợi nhất cho thí sinh, Bộ quyết định thời gian tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 sẽ được đẩy lên sớm hơn so với những năm trước. Kỳ thi năm 2017 sẽ được tổ chức từ ngày 21-24/6, trong đó thời gian thực tế thi là 2,5 ngày (năm 2016, kỳ thi diễn ra trong 4 ngày).

Ngày 27/3/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo kỳ thi THPT quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng.

Hiện nay, công tác chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 đang được tiến hành tích cực tại từng địa phương, từng cơ sở giáo dục. Trước khi bước vào thời điểm đăng ký chính thức, các địa phương đã tổ chức khảo sát đăng ký nguyện vọng của học sinh, lấy đó làm căn cứ để tổ chức ôn tập, đồng thời đánh giá được mức độ đón nhận của các em với hình thức thi chủ yếu năm nay là trắc nghiệm và bài thi tổ hợp.

Theo thống kê ban đầu từ các địa phương, năm nay số lượng học sinh đăng ký dự thi bài thi tổ hợp Khoa học Xã hội tăng vọt, trong đó đặc biệt là môn Lịch sử và Giáo dục công dân. Đây có thể coi là “tín hiệu vui” cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2017.

Để các em học sinh có thể làm quen với kỳ thi, các trường THPT sẽ sử dụng kỳ kiểm tra khảo sát học kỳ hai của lớp 12 để học sinh làm quen với phương thức thi của kỳ thi THPT quốc gia ở tất cả các khâu như phân chia phòng thi, in sao đề thi, coi thi và chấm thi.

Năm nay với việc mỗi địa phương chỉ còn một cụm thi do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, vì vậy, công tác rà soát và xác định các điểm thi sao cho phù hợp, vừa đảm bảo thuận lợi cho thí sinh, vừa đảm bảo an toàn cho kỳ thi đã được các địa phương chuẩn bị chặt chẽ.

Dù không còn trực tiếp chủ trì một cụm thi như năm trước song vai trò của các trường đại học vẫn thể hiện rõ nét trong kỳ thi năm nay thông qua việc cử cán bộ giảng viên tham gia coi thi trực tiếp tại các địa phương theo tỷ lệ 1-1 (1 địa phương, 1 trường đại học). Các trường đại học hiện đã sẵn sàng cho phương án cử cán bộ giảng viên tham gia coi thi.

Năm 2017 với 5/6 môn thi, bài thi sẽ thi theo hình thức trắc nghiệm và chấm trên máy tính, hệ thống công nghệ thông tin phục vụ kỳ thi đã và đang được chuẩn bị theo hướng thông suốt, an toàn và chính xác.

Cho đến thời điểm này, Bộ đã 2 lần công bố đề thi minh họa, đề thi thử nghiệm để học sinh và giáo viên có cơ sở ôn tập, chuẩn bị kỹ cho kỳ thi. Bộ đang gấp rút bổ sung, chuẩn hóa ngân hàng câu trắc nghiệm đã có bằng nhiều nguồn khác nhau, như huy động giáo viên THPT giỏi của tất cả 63 tỉnh, thành, các giảng viên đại học có chuyên môn tốt, tham gia biên soạn, biên tập câu hỏi thi. Ngân hàng câu hỏi thi chuẩn hóa đang được hoàn thiện đúng tiến độ, đáp ứng yêu cầu cả về số lượng, chất lượng.

Năm 2017, để đảm bảo quyền lợi cho thí sinh, cùng với việc tiếp tục cho thí sinh đăng ký nhiều nguyện vọng, Bộ đã xây dựng phần mềm tuyển sinh đại học, cao đẳng trong đó có chức năng hỗ trợ “ lọc ảo”. Bộ cũng yêu cầu các trường phải chủ động có giải pháp khắc phục tình trạng thí sinh “ảo” như: xác định chỉ tiêu phù hợp với với năng lực đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động; nâng cao chất lượng đào tạo; làm tốt hơn công tác truyền thông.

Phương án tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 sẽ được tiếp tục áp dụng trong các năm tiếp theo với những điều chỉnh hợp lý trên cơ sở rút kinh nghiệm tổ chức thi và tuyển sinh từng năm, đồng bộ với quá trình đổi mới dạy học, kiểm tra đánh giá trong các nhà trường phổ thông, để sau năm 2020 được tổ chức ổn định đảm bảo sự tương thích với định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã được Chính phủ phê duyệt.

2.3. Kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục đại học năm 2017

Ngày 23/02/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kế hoạch triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) đối với cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng sư phạm và trung cấp sư phạm năm 2017.

Theo đó, trong năm 2017, các tổ chức KĐCLGD phải hoàn thiện bộ máy tổ chức, phát triển đội ngũ kiểm định viên đảm bảo đủ năng lực, triển khai KĐCLGD cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo theo kế hoạch của Bộ. Xây dựng kế hoạch phát triển tổ chức theo hướng chuyên nghiệp, tăng cường gắn kết với hoạt động của các tổ chức đánh giá, KĐCLGD quốc tế.

Đồng thời thực hiện nghiêm việc công khai kết quả kiểm định, công khai minh bạch các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, báo cáo về Bộ theo quy định; tham gia tư vấn các chính sách đảm bảo chất lượng và thực hiện tốt cơ chế giám sát chất lượng.

Các cơ sở đào tạo tập trung xây dựng hoặc rà soát kế hoạch phát triển trường giai đoạn 2017 - 2020; xây dựng kế hoạch đảm bảo chất lượng hằng năm của nhà trường và triển khai thực hiện kế hoạch đã đề ra; kiện toàn đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng giáo dục; cử người tham dự đầy đủ các khóa hội thảo, tập huấn do Bộ tổ chức; triển khai tốt việc tập huấn lại cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, người học của đơn vị mình.

Căn cứ điều kiện của đơn vị, các đơn vị chủ động công khai minh bạch các điều kiện đảm bảo chất lượng của nhà trường theo hướng dẫn của Bộ trước kỳ tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2017, tạo điều kiện cho thí sinh và xã hội lựa chọn được trường phù hợp để đăng ký theo học.

Đối với các trường chưa đăng ký đánh giá ngoài thì cần có giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tự đánh giá, khẩn trương rà soát, hoàn thiện báo cáo tự đánh giá, đăng ký với các tổ chức KĐCLGD (trước ngày 30/6/2017) và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho hoạt động đánh giá ngoài; triển khai các giải pháp cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục theo các kết quả tự đánh giá.

Đối với các trường đã được đánh giá ngoài nhưng chưa đủ điều kiện để được công nhận đạt kết quả KĐCLGD: Tập trung khắc phục hạn chế, cải tiến chất lượng ở các tiêu chí chưa đạt, phát huy những tiêu chí đã làm tốt.

Đối với các trường đã được đánh giá ngoài và đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục: Tiếp tục cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện báo cáo giữa kỳ theo quy định; đẩy mạnh việc đăng ký kiểm định chất lượng chương trình đào tạo trong nước và quốc tế; nghiên cứu bộ tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục đại học mới để chuẩn bị các điều kiện cho đánh giá vào chu kỳ tiếp theo; khuyến khích việc đăng ký đánh giá thêm (trong chu kỳ này) theo bộ tiêu chuẩn mới hoặc theo tiêu chuẩn của các tổ chức KĐCLGD quốc tế và khu vực có uy tín.

2.4. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non

Hiện nay, tình trạng thừa giáo viên phổ thông, thiếu giáo viên mầm non đang diễn ra ở một số địa phương trong cả nước. Để tăng cường đội ngũ giáo viên mầm non cho các địa phương, có nhiều giải pháp, trong đó có thể đào tạo văn bằng 2 sư phạm mầm non cho những người đã tốt nghiệp chương trình đào tạo sư phạm bậc phổ thông. Bộ đã giao cho Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chủ trì, phối hợp với các trường sư phạm khác nghiên cứu, khảo sát kỹ để xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn của chương trình đào tạo văn bằng 2 sư phạm mầm non.

Sau một thời gian khẩn trương triển khai, mới đây, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chính thức ban hành chương trình đào tạo văn bằng 2 cho giáo viên mầm non để thống nhất đào tạo trong toàn quốc.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định, chất lượng giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Giáo dục mầm non là bậc học đặc thù, đòi hỏi giáo viên mầm non phải đáp ứng được những kiến thức, kỹ năng chuyên biệt để có thể chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non tốt nhất.

Do vậy, Bộ yêu cầu các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu vào, cương quyết không tuyển sinh những đối tượng người học không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của giáo viên bậc học mầm non. Quá trình đào tạo phải được tổ chức trực tiếp theo hướng tăng thời lượng thực hành và kiểm soát chặt chẽ đầu ra.

Bộ sẽ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình triển khai chương trình đào tạo văn bằng 2 sư phạm mầm non để đảm bảo người học sau khi ra trường có thể đáp ứng tốt yêu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non.

2.5. Ngành Giáo dục nỗ lực đảm bảo an toàn trường học

Thời gian qua, liên tiếp những sự việc liên quan đến an toàn trường học được báo chí thông tin và nhận được sự quan tâm đặc biệt từ dư luận xã hội.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vào cuộc ngay mỗi khi nắm được thông tin từ báo chí. Sự việc xảy ra ở địa phương nào, Bộ sẽ liên hệ trực tiếp với địa phương đó để nắm tình hình và chỉ đạo giải quyết trên tinh thần khẩn trương và quyết liệt. Chính vì thế nhiều vụ việc đã được xử lý kịp thời, nhận được sự đồng thuận từ xã hội.

Để đảm bảo an toàn trường học trở thành công tác thường xuyên, mang lại hiệu quả lâu dài, ngày 20/02/2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 505/CT-BGDĐT về việc tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục.

Theo đó, Bộ yêu cầu các các cơ sở giáo dục phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với Ban Đại diện cha mẹ học sinh, cơ quan công an, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức và các cơ quan liên quan ở địa phương triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh đánh nhau; các hành vi bạo lực, xâm hại đối với học sinh trong các cơ sở giáo dục.

Bộ cũng chỉ đạo các cơ sở giáo dục phải thực hiện đầy đủ các nội dung, quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, phòng chống, giảm thiểu nguy cơ và khắc phục hậu quả tai nạn, thương tích trong trường học.

Ngoài an toàn trường học, dân chủ trường học cũng đang là những vấn đề của ngành giáo dục nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội. Dự kiến sắp tới, Bộ sẽ tổ chức hội nghị toàn quốc về dân chủ trường học nhằm lắng nghe ý kiến từ địa phương, cùng tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường dân chủ trường học, để mỗi cán bộ, giáo viên được nói lên tâm tư, nguyện vọng, khó khăn, bức xúc trong quá trình công tác.

Toàn ngành sẽ tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục, để trường học thực sự là môi trường an toàn, lành mạnh cho các em học sinh.

 2.6. Nhiều cá nhân, tập thể tiêu biểu được Bộ trưởng gửi thư khen

Thời gian qua, bên cạnh một số vụ việc tiêu cực diễn ra ở một số cơ sở giáo dục tại địa phương, trên các phương tiện truyền thông đại chúng còn xuất hiện rất nhiều những tấm gương giáo viên, học sinh tiêu biểu, nỗ lực vượt qua khó khăn để dạy tốt, học tốt, những thầy cô giáo yêu thương, hết lòng vì học trò.

* Tại Quảng Ninh, hình ảnh hàng trăm thầy cô giáo, học sinh xếp hàng để thử máu, truyền máu với mong muốn hỗ trợ kịp thời cứu chữa một em học sinh không may bị tai nạn trong giờ ra chơi tại Trường THCS Trần Quốc Toản đã gây xúc động mạnh trong công đồng xã hội. Mặc dù không thể cứu sống được em học sinh song việc làm này đã thể hiện đạo lý tốt đẹp “thương người như thế thương thân” của dân tộc ta và để lại những dư âm tốt đẹp về hình ảnh người giáo viên nhân dân.

Thông qua Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã ghi nhận và biểu dương hành động đẹp của các thầy cô giáo. Bộ trưởng coi đây là biểu hiện của tình thầy trò gắn bó như máu thịt và tin tưởng rằng, những hành động như thế sẽ được nhân rộng nhiều hơn trong toàn ngành.

* Hình ảnh thầy giáo Ninh Văn Dậu (giáo viên Trường THPT Đinh Tiên Hoàng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai) vượt hàng chục ki-lô-mét đường rừng, kiên trì thu phục học sinh Ksor Gôl trở lại trường trong vòng tay yêu thương của thầy cô, bạn bè đã được báo chí chuyển tải đầy xúc động.

Cảm phục tinh thần và ý chí của thầy Ninh Văn Dậu, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã gửi thư khen, trong đó nêu rõ: “Tôi đánh giá cao tấm lòng cao đẹp, nhân ái của thầy Ninh Văn Dậu trong việc không ngại khó khăn, gian khổ đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp trồng người, với tinh thần “tất cả vì học sinh thân yêu”. Việc làm của thầy chắc chắn sẽ lan tỏa trong toàn ngành và toàn xã hội, tạo ra nhiều cảm hứng, niềm tin yêu trong học sinh, sinh viên và những động lực mới trong dạy học cho các thầy, cô giáo trong cả nước”.

Thay mặt Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng gửi lời khen ngợi về việc làm rất có ý nghĩa nói trên của thầy Ninh Văn Dậu và mong muốn thầy cũng như các thầy, cô giáo trong toàn ngành tiếp tục có nhiều việc làm ý nghĩa, thiết thực hơn nữa, góp phần vào thành công chung của ngành Giáo dục.

* Được biết trong nhiều năm qua, cô hiệu trưởng Lê Minh Sơn và tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên Trường Tiểu học Tràng An (Hà Nội) đều đặn mỗi sáng có mặt từ sớm để đón học sinh vào lớp, dù cho ngày nắng hay ngày mưa, mùa đông hay mùa hè. Việc làm của cô hiệu trưởng và giáo viên, nhân viên nhà trường đã nhận được sự đồng tình, đánh giá cao của các bậc phụ huynh và dư luận xã hội, góp phần làm đẹp thêm hình ảnh về các thầy cô giáo.

Qua Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đánh giá cao và biểu dương hành động đẹp của cá nhân cô hiệu trưởng và tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên Trường Tiểu học Tràng An.

Bộ trưởng khẳng định, hình ảnh thầy cô giáo Trường Tiểu học Tràng An không quản ngại nắng mưa đón học trò trước cổng trưởng mỗi sáng đã cho thấy, dù trong hoàn cảnh nào, chỉ có tình yêu thương và trách nhiệm với học trò mới làm nên hình ảnh đẹp nhất về người giáo viên nhân dân.

Nhân đây, Bộ trưởng đề nghị các cơ sở giáo dục trong cả nước quan tâm hơn nữa tới học sinh của mình, để những hoạt động như thế này sẽ trở thành việc làm thường xuyên, góp phần đảm bảo an toàn cho học sinh, đồng thời tạo sự gần gũi, gắn bó giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong chăm sóc, giáo dục trẻ em.

 2.7. Bộ trưởng làm việc với các địa phương, các trường đại học để chỉ đạo định hướng nhiều vấn đề giáo dục quan trọng

*Trong quý I/2017, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ và đoàn công tác của Bộ Giáo dục và đào tạo đã có các cuộc làm việc về định hướng phát triển giáo dục địa phương với các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Thừa Thiên Huế, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lạng Sơn, Hưng Yên, Ninh Thuận

Tại các cuộc làm việc, lãnh đạo Bộ và lãnh đạo địa phương đã cùng trao đổi về những thuận lợi, khó khăn, những kiến nghị, đề xuất từ thực tiễn của địa phương và bàn các biện pháp để tháo gỡ, giúp cho giáo dục và đào tạo địa phương phát triển, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố.

Làm việc với lãnh đạo thành phố Cần Thơ, Bộ trưởng khẳng định, giáo dục Cần Thơ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Chính vì vậy, sự phát triển của giáo dục Cần Thơ sẽ có ý nghĩa vô vùng quan trọng tạo động lực phát triển cho toàn vùng.

Làm việc với lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận, Bộ trưởng cho rằng, với xuất phát điểm khó khăn về giáo dục đào tạo, ngành Giáo dục Ninh Thuận cần bám sát các chỉ đạo của Bộ, bên cạnh việc nâng cao chất lượng chung cần tìm ra được những điểm thế mạnh để tạo ra điểm sáng cho giáo dục địa phương.

Đánh giá về giáo dục Thừa Thiên Huế, Bộ trưởng nhấn mạnh, Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương có điều kiện tốt về giáo dục đào tạo với một hệ thống giáo dục, đào tạo hoàn chỉnh và có chất lượng đồng đều. Tuy nhiên so với tiềm năng thế mạnh của địa phương thì sự phát triển giáo dục đào tạo Thừa Thiên Huế chưa tương xứng. Vì vậy, thời gian tới, Thừa Thiên Huế cần nỗ lực hơn nữa để có vị trí xứng đáng so với giáo dục cả nước.

Làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bộ trưởng lưu ý ngành giáo dục Bà Rịa - Vũng Tàu cần cải tiến chất lượng theo hướng bền vững hơn, tương ứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời quan tâm tới công tác xóa mù chữ và xã hội hóa giáo dục. Trong xã hội hóa ưu tiên bậc học mầm non và các trường chất lượng cao.

Trước những khó khăn của giáo dục Lạng Sơn về cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng dạy và học ngoại ngữ, Bộ trưởng đã đi sâu phân tích các nhiệm vụ và giải pháp chiến lược của địa phương cùng với hướng tháo gỡ khó khăn trong quá trình đổi mới. Trong đó nhấn mạnh tới chất lượng giáo viên và việc huy động, lồng ghép các nguồn vốn để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp.

Làm việc với lãnh đạo tỉnh Hưng Yên về xúc tiến đầu tư vào khu đại học Phố Hiến và các khu phụ trợ, Bộ trưởng đề nghị tỉnh chú ý đến công tác quy hoạch và ưu tiên quỹ đất ở cho cán bộ giảng viên. Với những điều kiện thuận lợi, Bộ trưởng tin tưởng, Hưng Yên sẽ sớm trở thành một đô thị đại học đa ngành, đa lĩnh vực hàng đầu tại Việt Nam.

Lưu ý chung tại các cuộc làm việc, Bộ trưởng đề nghị các địa phương bám sát 9 nhiệm vụ chủ yếu và 5 giải pháp đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra cho năm học 2016 - 2017 và những năm tiếp theo để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.

Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ như: Rà soát, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục, đào tạo theo cả hai hướng đại trà và chất lượng cao, trong đó, đại trà thuộc trách nhiệm đầu tư của địa phương và chất lượng cao theo hướng xã hội hóa; rà soát đội ngũ giáo viên theo chuẩn, quy chuẩn gắn với đổi mới chương trình, sách giáo khoa; Đẩy mạnh dạy và học ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập; làm tốt việc dự báo nguồn nhân lực và tăng cường phân luồng sau THCS; chú trọng đầu tư cơ sở vật chất trường lớp theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa; nhân rộng các điển hình tiên tiến, những tấm gương người tốt việc tốt trong toàn ngành; quan tâm hơn nữa tới giáo dục đạo đức lối sống, dân chủ, an toàn trường học và kỳ thi THPT quốc gia năm 2017.

*Cũng trong quý I, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã có các cuộc làm việc với các trường đại học: Trường Đại học FPT, Trường Đại học Lâm nghiệp và Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu.

Làm việc với Trường Đại học FPT, Bộ trưởng lưu ý nhà trường cần tập trung vào các vấn đề: Chương trình, giáo trình và tổ chức giảng dạy; cơ sở vật chất, điều kiện và thực hành gắn với doanh nghiệp và đặt ra nhiều bài toán để hoàn thiện. Bộ trưởng mong rằng Trường Đại học FPT sẽ là chủ lực trong ngành Giáo dục về đào tạo nguồn lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin và trở địa chỉ hàng đầu về hợp tác quốc tế trong đào tạo.

Với Trường Đại học Lâm nghiệp, Bộ trưởng gợi ý nhà trường cần đẩy mạnh liên kết, phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp để xây dựng dự báo nguồn nhân lực trong thời gian sắp tới. Bám sát vào chủ trương của Chính phủ, của ngành trong phát triển nông, lâm nghiệp để rà soát. Xem xét thu gọn lại các ngành đào tạo truyền thống. Tập trung vào những ngành thị trường cần, có thể là doanh nghiệp cần, địa phương cần để rà soát cơ cấu các ngành đào tạo.

Tại trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, Bộ trưởng nhấn mạnh tới các vấn đề về sứ mạng, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của một trường đại học, trong đó sứ mạng lớn nhất là vì cộng đồng, giá trị cốt lõi là chất lượng. Là một trong những mô hình “trường trong doanh nghiệp” khá thành công hiện nay, Bộ trường gửi gắm Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ phát triển để tạo ra được một thương hiệu cho tỉnh, giúp người dân không chỉ nâng cao dân trí mà còn tự hào về trường đại học của địa phương.

 

 

PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017
Cập nhật lúc : 18:42 28/09/2016

(Kèm theo Công văn số 4818/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 28 tháng 9 năm 2016)

Năm 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tiếp tục tổ chức Kỳ thi Trung học phổ thông (THPT) quốc gia lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ để tuyển sinh đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) hệ chính quy. Phương án cụ thể như sau:

I. Tổ chức thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2017

1. Tổ chức cụm thi

a) Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) tổ chức một cụm thi do sở GDĐT chủ trì dành cho tất cả các thí sinh của địa phương; các điểm thi được bố trí đảm bảo tạo thuận lợi tối đa cho thí sinh; các thí sinh tự do được lựa chọn địa điểm thi phù hợp.

b) Sở GDĐT các tỉnh bố trí cán bộ thực hiện các khâu tổ chức thi theo đúng quy chế.

c) Bộ GDĐT cử cán bộ, giảng viên từ các đại học, học viện, trường ĐH, CĐ (gọi chung là các trường ĐH, CĐ) đến các tỉnh để phối hợp, hỗ trợ tổ chức thi, nhất là các khâu coi thi và chấm thi.

2. Bài thi, hình thức thi, đề thi, thời gian làm bài thi và lịch thi

a) Bài thi

- Tổ chức thi 5 bài, gồm:

+ 3 bài thi độc lập: Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ.

+ 2 bài thi tổ hợp: Khoa học Tự nhiên (tổ hợp các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học) và Khoa học Xã hội (tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân đối với Giáo dục THPT; tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí đối với Giáo dục Thường xuyên). Các bài thi tổ hợp có điểm từng môn thành phần (phục vụ xét tuyển sinh ĐH, CĐ theo khối thi truyền thống) và điểm toàn bài thi (phục vụ xét công nhận tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh ĐH, CĐ theo tổ hợp môn thi, bài thi mới).

- Thí sinh Giáo dục THPT thi 4 bài để lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT, gồm 3 bài thi bắt buộc (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ) và 1 bài thi tự chọn (bài thi Khoa học Tự nhiên hoặc bài thi Khoa học Xã hội). Với bài thi Ngoại ngữ, thí sinh có thể chọn thi một trong các thứ tiếng: Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc, Tiếng Đức, Tiếng Nhật. Thí sinh có thể dự thi cả 5 bài thi; điểm bài thi tự chọn nào cao hơn sẽ được tính để xét công nhận tốt nghiệp THPT.

- Thí sinh Giáo dục Thường xuyên thi 3 bài để lấy kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT, gồm 2 bài thi bắt buộc (Toán, Ngữ văn) và 1 bài thi tự chọn (bài thi Khoa học Tự nhiên hoặc bài thi Khoa học Xã hội). Thí sinh có thể dự thi cả 4 bài thi; điểm bài thi tự chọn nào cao hơn sẽ được tính để xét công nhận tốt nghiệp THPT. Ngoài ra, thí sinh có thể thi thêm bài thi Ngoại ngữ để xét tuyển vào ĐH, CĐ nếu có nguyện vọng.

- Thí sinh đã tốt nghiệp THPT dự thi để lấy kết quả xét tuyển vào ĐH, CĐ có thể chọn thi các bài thi hoặc các môn thành phần của bài thi Khoa học Tự nhiên, bài thi Khoa học Xã hội, phù hợp với tổ hợp bài thi, môn thi xét tuyển vào ngành, nhóm ngành theo quy định của các trường ĐH, CĐ.

- Thí sinh được sử dụng kết quả thi THPT quốc gia để đăng ký xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2017 theo quy định trong đề án tuyển sinh được các trường ĐH, CĐ công bố công khai.

b) Hình thức thi

- Các bài thi Toán, Ngoại ngữ, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan; mỗi thí sinh trong cùng phòng thi có một mã đề thi riêng; thí sinh làm bài thi trên Phiếu trả lời trắc nghiệm (Phiếu TLTN); kết quả làm bài của thí sinh trên Phiếu TLTN được chấm bằng phần mềm máy tính.

- Bài thi Ngữ văn thi theo hình thức tự luận.

c) Đề thi

- Đề thi gồm các câu hỏi ở các cấp độ cơ bản phục vụ mục đích xét công nhận tốt nghiệp THPT và các câu hỏi phân hóa phục vụ mục đích xét tuyển ĐH, CĐ.

- Đề thi cho mỗi môn thành phần của các bài thi Khoa học Tự nhiên, bài thi Khoa học Xã hội có 40 câu hỏi trắc nghiệm; đề thi của bài thi Toán, bài thi Ngoại ngữ có 50 câu hỏi trắc nghiệm. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm có 4 phương án trả lời với duy nhất 1 phương án trả lời đúng.

- Đề thi bài thi Ngữ văn có phần Đọc hiểu và phần Làm văn.

d) Thời gian làm bài thi:

- Thời gian làm bài dành cho mỗi môn thành phần của các bài thi tổ hợp Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội: 50 phút.

- Bài thi Ngữ văn: 120 phút.

- Bài thi Toán: 90 phút.

- Bài thi Ngoại ngữ: 60 phút.

đ) Nội dung thi: Năm 2017, nội dung thi nằm trong Chương trình lớp 12 THPT; năm 2018, nội dung thi nằm trong Chương trình lớp 11 và lớp 12 THPT; từ năm 2019 trở đi, nội dung thi nằm trong Chương trình cấp THPT.

e) Lịch thi: Tổ chức thi 2 ngày trong tháng 6 năm 2017. Lịch thi cụ thể:

- Ngày thứ nhất:

+ Buổi sáng: thi Ngữ văn và Ngoại ngữ.

+ Buổi chiều: thi Toán.

- Ngày thứ hai:

+ Buổi sáng: thi bài thi Khoa học Tự nhiên.

+ Buổi chiều: thi bài thi Khoa học Xã hội.

3. Công bố kết quả thi và cấp Giấy chứng nhận kết quả thi

Sở GDĐT cập nhật kết quả thi lên hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu chung của Bộ GDĐT, công bố kết quả thi và cấp cho mỗi thí sinh 1 Giấy chứng nhận kết quả thi.

4. Xét công nhận tốt nghiệp THPT

- Kết hợp sử dụng kết quả điểm 4 bài thi tốt nghiệp (đối với thí sinh Giáo dục THPT) hoặc 3 bài thi tốt nghiệp (đối với thí sinh Giáo dục Thường xuyên) với điểm trung bình cả năm lớp 12 và điểm ưu tiên, khuyến khích (nếu có) để xét công nhận tốt nghiệp THPT.

- Phương thức tính điểm xét tốt nghiệp: điểm các bài thi tốt nghiệp và điểm trung bình cả năm lớp 12 có tỷ lệ tương ứng 50 : 50.

- Điểm liệt của mỗi bài thi độc lập (theo thang 10 điểm): 1,0 điểm.

- Điểm liệt của mỗi môn thành phần (theo thang 10 điểm) của các bài thi tổ hợp: 1,0 điểm.

5. Quản lý cơ sở dữ liệu thi THPT quốc gia

a) Các thông tin của thí sinh đăng ký dự thi THPT quốc gia được cập nhật vào hệ thống quản lý dữ liệu chung của Bộ GDĐT. Mỗi thí sinh được cung cấp một mã số thí sinh và tài khoản để kiểm tra thông tin cá nhân, kết quả thi THPT quốc gia, kết quả tốt nghiệp THPT và đăng ký xét tuyển ĐH, CĐ.

b) Sở GDĐT sử dụng cơ sở dữ liệu chung để tổ chức thi và xét công nhận tốt nghiệp THPT cho thí sinh; cập nhật lên hệ thống kết quả học tập THPT, kết quả thi THPT quốc gia và kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT.

c) Các trường ĐH, CĐ truy cập, khai thác dữ liệu phục vụ công tác tuyển sinh.

II. Tổ chức tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2017

1. Quy định chung

- Bộ GDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy, đảm bảo quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học theo định hướng tại mục II.2 dưới đây.

- Các trường ĐH, CĐ xây dựng đề án tự chủ tuyển sinh theo Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy và công bố công khai.

- Các trường có thể tuyển sinh 1 hoặc 2 kỳ trong năm.

2. Các phương thức tuyển sinh

2.1. Xét tuyển dựa vào kết quả các bài thi THPT quốc gia

- Các trường công bố công khai tổ hợp các bài thi, môn thi của Kỳ thi THPT quốc gia được sử dụng để xét tuyển vào các ngành của trường trước khi thí sinh đăng ký dự thi.

- Các trường công bố công khai chỉ tiêu dành cho các tổ hợp xét tuyển khác nhau; trong đó, dành ít nhất 25% chỉ tiêu để xét tuyển theo các khối thi truyền thống (A, A1, B, C, D).

- Sau khi có kết quả thi, thí sinh được phép đăng ký nhiều nguyện vọng xét tuyển vào ngành/trường ĐH, CĐ và được sắp xếp các nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên.

- Bộ GDĐT sử dụng phần mềm quản lý tuyển sinh để xác định danh sách thí sinh trúng tuyển với 1 nguyện vọng phù hợp nhất trong số các nguyện vọng mà thí sinh đã đăng ký xét tuyển. Danh sách này được công khai để các trường tham khảo, làm căn cứ tuyển sinh. Các trường có thể cân đối, điều chỉnh dựa vào các điều kiện thực tế của trường đã nêu trong đề án tự chủ tuyển sinh để quyết định danh sách thí sinh trúng tuyển chính thức.

- Trong thời hạn quy định của trường, thí sinh trúng tuyển phải khẳng định nhập học tại trường; trường có trách nhiệm cập nhật sớm nhất danh sách thí sinh đã khẳng định nhập học lên hệ thống quản lý dữ liệu chung để các trường khác cùng biết.

- Việc xét tuyển có thể được thực hiện nhiều đợt trong thời gian quy định của kỳ tuyển sinh và theo yêu cầu của các trường.

2.2. Sơ tuyển dựa vào kết quả Kỳ thi THPT quốc gia hoặc dựa vào kết quả học tập ở cấp THPT kết hợp với thi đánh giá năng lực chuyên biệt của thí sinh

Nếu sử dụng kết quả thi THPT quốc gia hoặc kết quả học tập ở cấp THPT để sơ tuyển, các trường có thể tổ chức thi năng khiếu, thi đánh giá năng lực chuyên biệt của thí sinh (nếu thấy cần thiết) với các hình thức phù hợp, đảm bảo không để xảy ra tình trạng luyện thi tràn lan. Các trường phải công khai đề thi minh họa của bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt, phương thức thi (trắc nghiệm hay tự luận) và cách tính điểm xét tuyển.

2.3. Xét tuyển dựa vào kết quả học tập ở cấp THPT

Các trường thông báo cụ thể điều kiện nhận hồ sơ xét tuyển dựa vào kết quả học tập ở cấp THPT (lớp 12 hoặc cả 3 năm THPT). Thí sinh nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển theo yêu cầu của trường được quy định trong đề án tự chủ tuyển sinh đã được công bố công khai.

2.4. Phối hợp nhiều phương thức tuyển sinh

Các trường có thể chọn một hoặc kết hợp nhiều phương thức tuyển sinh nêu trên và quy định rõ trong đề án tự chủ tuyển sinh; đồng thời, công bố công khai chỉ tiêu xét tuyển đối với mỗi phương thức tuyển sinh.

III. Các nhiệm vụ triển khai thực hiện trong thời gian tới

1. Bộ GDĐT

a) Công bố Phương án tổ chức Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017; triển khai truyền thông sâu rộng để giáo viên, học sinh và xã hội hiểu rõ, tạo sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện.

b) Sửa đổi, bổ sung Quy chế thi THPT quốc gia và Quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy.

c) Công bố đề thi minh họa cho Kỳ thi THPT quốc gia 2017 để học sinh, giáo viên tham khảo, vận dụng trong dạy, học và ôn tập chuẩn bị cho Kỳ thi.

d) Tiếp tục bổ sung ngân hàng câu hỏi thi; chuẩn bị phần mềm và hạ tầng công nghệ thông tin đảm bảo tổ chức thi và tuyển sinh thành công.

2. Các địa phương

a) Chỉ đạo tuyên truyền chủ trương, hướng dẫn tổ chức Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017, nhất là những điều chỉnh trong tổ chức thi, xét tuyển sinh ĐH, CĐ tới các cơ sở giáo dục đào tạo và giáo viên, học sinh của địa phương.

b) Chỉ đạo triển khai tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá trong các trường phổ thông và hướng dẫn học sinh ôn tập.

3. Các trường ĐH, CĐ

a) Xây dựng đề án tự chủ tuyển sinh, chuẩn bị các điều kiện thực hiện tốt công tác tuyển sinh năm 2017.

b) Bố trí cán bộ, giảng viên đến các tỉnh để hỗ trợ công tác tổ chức thi theo yêu cầu của Bộ GDĐT.

(Nguồn: http://www.moet.gov.vn)

Hướng dẫn thực hiện quy chế thi trong tổ chức thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT
Cập nhật lúc : 14:47 01/04/2015

Nội dung ôn thi lên lớp 11, 12 năm học 2013 - 2014
Cập nhật lúc : 17:19 02/06/2013

Danh sach giáo viên coi thi cao đăng Năm 2013
Cập nhật lúc : 10:49 18/06/2013