Học vấn không có quê hương, người học phải có tổ quốc ''

Ngày 18 tháng 04 năm 2014

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tài nguyên » Các tổ chuyên môn

Tổ Sử - Địa

Cập nhật lúc : 04:24 19/10/2012  

Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng qua "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", "Chỉ thị toàn quốc kháng chiến" và "Kháng chiến nhất định thắng lợi"

Cuối năm 1946, sau một thời gian hòa hoãn tạm thời, thực dân Pháp bắt đầu tỏ ra khiêu khích chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa một cách không che đậy. Sự nhẫn nhịn của chính phủ và nhân dân ta trước hàng loạt những vụ nổ súng vô cớ của quân Pháp càng làm chúng thêm hung hăng hơn. Đến cao trào là ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946, chúng gửi tối hậu thư cho chính phủ ta đe dọa đảo chính thì chúng ta không thể nhân nhượng thêm nữa.
Đúng 20 giờ ngày 19-12-1946, theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Và ngay trong những ngày đầu, đường lối kháng chiến đã được vạch ra cụ thể và kịp thời qua 3 văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” và tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”.
              Nội dung chủ đạo của đường lối kháng chiến:

- Xác định rõ đối tượng, tính chất và mục đích của cuộc kháng chiến:
                 o Đối tượng: “đánh phản động thực dân Pháp xâm lược” (“Chỉ thị …”)
                 o Mục tiêu: giành độc lập và thống nhất cho dân tộc.
                 o Tính chất: tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.

- Kháng chiến toàn dân: chiến tranh nhân dân, toàn dân dánh giặc “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.”
                o Khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất của dân tộc ta qua 4000 năm dựng nước và giữ nước.
                o Tạo nên thế trận “cả nước đánh giặc”, huy động được sức mạnh tối đa của cả dân tộc. Đó là điểm cốt yếu trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Để đánh thắng những đạo quân xâm lược mạnh của chủ nghĩa đế quốc, ta áp dụng chiến thuật du kích kết hợp với rèn luyện quân chính quy và công tác binh vận. Kẻ địch đi đến đâu cũng bị công kích, khi chúng trở nên hoang mang thì ta thực hiện binh vận. Khi có đủ thời cơ thì ta thực hiện tổng tiến công.
              “Tích cực tiến công, giải quyết mau từng trận; sử dụng du kích chiến và vận động chiến; kết hợp tác chiến và địch vận; phát động phong trào dân quân, động viên toàn dân đánh giặc”. (“Kháng chiến nhất định thắng lợi”)
Đó là đường lối quân sự sáng tạo và hoàn toàn phù hợp với điều kiện nước ta.
                o Để tạo được cục diện kháng chiến toàn dân như vậy, Đảng ta đã sáng suốt chỉ ra đúng đối tượng và mục đích của cuộc kháng chiến. Lúc này, độc lập dân tộc phải đặt lên hàng đầu. Mâu thuẫn giai cấp có thể tạm thời gác lại. Mọi người dân Việt Nam không phân chia đảng phái, giai cấp phải sát cánh bên nhau vì sự tồn vong của cả dân tộc. Hơn nữa, trong thời kỳ kháng chiến, Đảng cũng có nhiều chủ trương cải cách dân chủ, chăm lo cho đời sống nhân dân. Điều đó cành làm cho nhân dân càng phấn khởi, tin tưởng và ủng hộ nhiều hơn cho sự nghiệp giải phóng
- Kháng chiến toàn diện: chiến tranh là cuộc đọ sức giữa hai phe trên mọi phương diện: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao … trong đó mặt trận quân sự là quan trọng hàng đầu
                o Về chính trị: nhấn mạnh vấn đề xây dựng khối toàn dân đoàn kết trên nền tảng củng cố khối liên minh công – nông, không ngừng mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc
                o Về quân sự: dần dần xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xác định đánh lâu dài làm phương châm chiến lược, quán triệt tư tưởng tích cực tiến công, kết hợp đánh địch cả bằng chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, cả bằng quân sự, chính trị và binh vận. Xây dựng ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Tiến công địch ở cả ba vùng chiến lược: nông thôn, đô thị và miền núi.
                o Về kinh tế: cải cách ruộng đất, xây dựng nền kinh tế của ta trong thời chiến, tự chủ, bảo đảm nhu cầu của kháng chiến. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ kháng chiến với kiến quốc.
                o Về văn hóa: chống lại văn hóa nô dịch của địch, tăng cường bình dân học vụ, giải quyết giặc dốt, bài trừ mê tín dị đoan, tuyên truyền đường lối kháng chiến, tư tưởng cách mạng làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự thắng lợi của cuộc kháng chiến. …
                o Về ngoại giao: mở rộng quan hệ quốc tế nhằm tranh thủ thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân thế giới kể cả nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta, tranh thủ kết thúc chiến tranh bằng con đường ngoại giao khi có thể
                - Kháng chiến trường kỳ dựa vào sức mình là chính: Nghệ thuật quân sự: hạn chế điểm mạnh của Pháp. Thực dân Pháp bản chất là xâm lược, với đội quân trang bị vũ khí hiện đại. Chúng luôn có âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” để tiết kiệm chi phí chiến tranh và tránh những rắc rối từ dư luận quốc tế. Ngược lại, quân đội ta vừa mới thành lập, nhân lực vật lực chưa dồi dào, kinh nghiệm chiến đấu chưa phong phú. Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” nêu ra ba giai đoạn: cầm cự, phòng ngự và phản công với ý đồ đánh lâu dài. Với thế trận chiến tranh nhân dân, quân địch càng đánh càng yếu, quân ta càng đánh càng mạnh.
                 Sự lãnh đạo của đảng thể hiện đường lối kháng chiến đúng đắn: độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đường lối đó là sự kết tinh những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng bạo lực, về chiến tranh nhân dân được vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đường lối kháng chiến trải qua thực tiễn chiến đấu được phát triển và hoàn chỉnh, là nguyên nhân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Nguyễn Thị Kim Trúc