Bóng đen trong tâm hồn phải dùng kiến thức để đuổi đi''

Ngày 21 tháng 09 năm 2018

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tài nguyên » Các tổ chuyên môn

Tổ Toán

Cập nhật lúc : 22:14 22/01/2013  

Phương pháp học theo đề tài

TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP HỌC THEO ĐỀ TÀI

 

 

Giới thiệu

Cách đây hơn 100 năm, các nhà giáo dục như John Dewey đã báo cáo về những lợi ích của việc học từ kinh nghiệm, mô hình cụ thể thao tác được, học theo định hướng của học sinh. Từ đó, dạy học theo đề tài đã chiếm một vị trí đáng nể trong lớp học ở Mỹ với các ưu điểm: Học sinh sẽ hứng thú hơn với việc học khi có cơ hội thâm nhập vào những vấn đề phức tạp, mang tính thách thức cao, đôi khi đầy rẫy những vấn đề nhưng rất sát với thực tế đời sống; học sinh sử dụng một cách tích cực những kiến thức đã biết để khám phá, thương lượng, lý giải và sáng tạo;  những đề tài tốt sẽ khuyến khích việc tìm hiểu tích cực và tư duy bậc cao của học sinh.

I.                   Thế nào là dạy học theo đề tài?

Không chỉ có một định nghĩa cho học theo đề tài. Nói chung, chúng ta có thể hiểu học theo đề tài như sau:

Học theo đề tài là một phương phướng dạy có hệ thống nhằm lôi cuốn học sinh học kiến thức và kỹ năng thông qua một quá trình tìm tòi được cấu trúc xoay quanh các câu hỏi phức tạp và đích thực; các sản phẩm cũng như các nhiệm vụ được thiết kế cẩn thận. Dạy theo đề tài đặt học sinh vào những vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo.

II.               Dạy học theo đề tài thúc đẩy quá trình khám phá tìm hiểu

Quá trình khám phá tìm hiểu bao gồm một loạt các hoạt động để thỏa mãn óc tò mò bẩm sinh của con người về thế giới. Một nghiên cứu về dạy học theo đề tài đã kết luận rằng những đề tài thường tập trung vào những câu hỏi hoặc vấn đề "thôi thúc học sinh phải đối mặt với những khái niệm và những nguyên tắc tập trung của môn học". Hơn nữa, những hoạt động chính trong đề tài đã bao hàm quá trình khám phá tìm hiểu và kết cấu kiến thức của học sinh.

III.            Lợi ích của việc dạy học theo đề tài

Đối với học sinh, những lợi ích từ dạy học theo đề tài gồm:

à        Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập.

à        Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với các mô hình khác do khi được tham gia vào đề tài học sinh sẽ có trách nhiệm hơn trong học tập.

à        Có cơ hội phát triển các kĩ năng như giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp.

Với nhiều học sinh, tính hấp dẫn của hình thức học này xuất phát từ tính thực tiễn của kinh ngiệm. Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những người đang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể. Khi thực hiện một video tài liệu về vấn đề môi trường, thiết kế tờ rơi về hướng dẫn du lịch, thiết kế bài trình bày về tình hình sử dụng ma túy trái phép ở địa phương, học sinh đã được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi của lớp học.

Đối với giáo viên, những lợi ích mang lại là việc nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với các đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh

  1. IV.             Mô hình dạy học theo đề tài đã làm thay đổi lớp học truyền thống như thế nào?

Mô tả mô hình dạy học theo đề tài:

à        Học sinh được ưu tiên trong việc chọn các lĩnh vực nội dung và bản chất của các đề tài mà các em yêu thích.

à        Giáo viên đóng một vai trò chính trong việc đặt ra những mục đích học tập của đề tài.

à        Không có một giải pháp định sẵn cho một vấn đề trong đề tài,

à        Học sinh ra quyết định, thiết kế chương trình để tìm kiếm giải pháp.

à        Một không khí học tập chấp nhận sai sót và thay đổi.

à        Đòi hỏi học sinh làm ra một sản phẩm, trình bày hoặc trình diễn.

à        Cho phép học sinh bổ sung và cải tiến liên tục sản phẩm, trình bày hay trình diễn của mình. 

à        Giáo viên thúc đẩy - nhưng giáo viên thiên về là người hướng dẫn hơn là người "uyên bác trên diễn đàn". 

à        Việc đánh giá diễn ra liên tục kết hợp với đánh giá tổng kết.

Đối với những học sinh đã quá quen với lớp học truyền thống, những điều này là sự chuyển đổi từ việc bắt chước sang thực hiện các hoạt động tự định hướng; từ việc ghi nhớ, nhắc lại sang khám phá, tích hợp và trình bày; từ việc lắng nghe thụ động sang giao tiếp, chịu trách nhiệm; từ việc chỉ biết đến sự kiện, thuật ngữ và nội dung sang thông hiểu các quá trình; từ lý thuyết sang vận dụng lý thuyết.

V.                Những thách thức của giáo viên

Các phương pháp dạy học thuyết trình và các cách đánh giá truyền thống không còn hiệu quả trong thế giới mở ngỏ, liên môn của phương pháp dạy học theo đề tài. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, khuyến khích kịp thời cho học sinh. Đồng thời giáo viên cũng thấy mình đang cùng học với học sinh khi đề tài được mở ra.

Những thách thức cụ thể giáo viên cần phải gặp gồm:

à        Xác định được các tình huống có thể đem lại sự thành công cho đề tài.

à        Hợp tác cùng đồng nghiệp để phát triển các đề tài liên môn.

à        Quản lý quá trình học.

à        Phát triển các phương pháp đánh giá.

à        Chấp nhận rủi ro.

 

 

 

 

 

GIỚI THIỆU CÁC CÂU HỎI KẾT THÚC MỞ CÓ THỂ DÙNG TRONG HỌC THEO ĐỀ TÀI

 

ĐỀ TÀI 1: SỬ DỤNG THUỐC PARACETAMOL ĐÚNG CÁCH

Thông tin tham khảo

Paracetamol là một loại thuốc giảm đau.

Paracetamol là dược chất của Panado, bạn có thể mua ở quầy dược.

Tuy nhiên, nếu dùng quá liều paracetamol sẽ gặp nhiều rủi ro như sốc thuốc.

Liều lượng dùng paracetamol tùy vào trọng lượng cơ thể của mỗi người.

Đối với trẻ em, một liều dùng paracetamol được khuyến cáo là 10mg trên một kilogam trọng lượng cơ thể và tối đa là 4 liều một ngày.

Câu hỏi 1

1.1 Tính xem mỗi đứa trẻ sau nên dùng bao nhiêu mg paracetamol cho một liều là an toàn? Hoàn thành vào bảng sau:

Trọng lượng của bệnh nhân

6kg

7kg

8kg

9kg

15kg

25kg

35kg

mg paracetamol cho một liều

 

 

 

 

 

 

 

1.2 Viết phương trình biểu diễn sự phụ thuộc của lượng mg paracetamol dùng trong một liều cho với trẻ em với trọng lượng cho trước. Gọi xy là lượng mg paracetamol và x là trọng lượng của đứa trẻ tính bằng kg.

1.3 Dựa vào câu trả lời 1.1 và 1.2 để vẽ đồ thị dùng để xác định lượng mg paracetamol dùng trong một liều cho với trẻ em nếu biết trọng lượng của chúng.

Thông tin bổ sung

Paracetamol được bán ở quầy thuốc tập trung chủ yếu là các loại sau:

Dạng lỏng: 60mg para trên mỗi giọt(0,6 ml)

Xirô         : 120mg para trên một muỗng(5ml)

Dạng viên: 120mg para trên một viên.

1.4 Hãy xác định

1.5.1 Số giọt thuốc lỏng dùng trong một liều cho trẻ nặng 7kg.

1.5.2 Số muỗng xirô dùng trong một liều cho trẻ nặng 9,5kg

1.5.3 Số viên thuốc dùng trong một liều cho trẻ nặng 12,25kg

Câu hỏi 2

Hãy thu thập các hướng dẫn sử dụng được in trên bao bì của các dạng thuốc paracetamol được bán ở quầy thuốc.

Phân tích, đánh giá tính hợp lí của các hướng dẫn sử dụng đó.

Một ví dụ

Hướng dẫn sử dụng xirô paracetamol(120mg/5ml):

à        3-12 tháng tuổi: 2,5 đến 5ml một liều

à        1-5 tuổi: 5 đến 10ml một liều

à        6-12 tuổi: 10 đến 20ml một liều

à        Tối đa là 4 liều một ngày.

2.1 Theo hướng dẫn trên, nhà sản xuất đề nghị trẻ em từ 6 đến 12 tuổi dùng thuốc paracetamol như thế nào?

2.2 Hãy sử dụng biểu đồ biểu diễn mối quan hệ giữa trọng lượng cơ thể và số tuổi để thảo luận các vấn đề sau:

Bạn suy nghĩ như thế nào về hướng dẫn sử dụng trên? Nó phù hợp với khuyến cáo sử dụng thuốc paracetamol an toàn ở mức độ nào?

Hãy đề nghị một hướng dẫn sử dụng khác mà bạn cho là thích hợp nhất?

 

 

Nhận xét về đề tài

- Đề tài chứa một vấn đề phổ biến và rất được quan tâm, nó có ý nghĩa thực tế nên thôi thúc được sự tham gia tích cực của các em.

- Học sinh có thể tự tìm hiểu các thông tin về paracetamol như: tác dụng của para, sự tồn tại của nó trong các loại thuốc, các rủi ro khi dùng thuốc, các hướng dẫn sư dụng thuốc an toàn qua sách báo, internet... Giáo viên chỉ đưa ra các thông tin trên khi học sinh gặp khó khăn.

- Câu hỏi 2 là một câu hỏi mở đòi hỏi học sinh phải biết tổng hợp các kiến thức và các số liệu thu được để đánh giá đề nghị dùng thuốc an toàn của  nhà sản xuất và tự đưa ra quyết định mà các em cho là phù hợp hơn(có lời giải thích).

 

-------------------------------------

 

ĐỀ TÀI 2: CHI PHÍ HÀN XÌ

Khảo sát các cơ sở hàn xì ở địa phương, quan tâm đến cước phí dịch vụ đầu và giá tiền cho mỗi giờ làm việc. Biểu diễn chi phí phải trả theo thời gian làm việc cho mỗi cơ sở bằng đồ thị. Chọn ra cơ sở hàn xì đáng tin cậy ,có chi phí dễ chấp nhận.

Một ví dụ:

Ông Brown phải trả 50$ cước phí dịch vụ và 80$ cho mỗi giờ sửa chữa một lỗ hổng cho người thợ hàn xì(ở cơ sở hàn xì A).

 

  

 

1.1    Tìm công thức tính chi phí ông Brown phải trả theo thời gian làm việc của người thợ hàn.

1.2    Vẽ đồ thị để tính chi phí phải trả(y) theo thời gian làm việc (t) của thợ hàn(vẽ đồ thị trong khoảng 8h làm việc).

1.3     Một cơ sở hàn xì khác (cơ sở B) có cước phí là 80$ và chi phí cho mỗi giờ làm việc là 50$. So sánh hai cơ sở đó. Thời gian làm việc là bao lâu để chi phí phải trả đối với hai cơ sở là như nhau.

Nhận xét về đề tài:

Học sinh có thể dùng đồ thị hoặc giải bất phương trình để tìm ra cơ sở hàn xì tối ưu. Vấn đề mở là ở chổ không có cơ sở nào là tối ưu cho mọi trường hợp, nó phụ thuộc vào thời gian cần thiết để hàn xong lỗ hổng. Một kinh nghiệm quan trọng là phải đánh giá mức độ hư hỏng của vật(diện tích lỗ hổng) để dự đoán thời gian cần thiết cho việc sửa chữa, từ đó chọn cơ sở hàn xì hợp lí.

 

 

 

 

 

 

ĐỀ TÀI: QUÃNG ĐƯỜNG ĐI HỌC

 

Xác định vận tốc đi bộ, đi xe đạp của bạn kết hợp với thời gian tiêu tốn đi từ nhà đến trường để ước lượng quãng đường đi học của bạn.

Một câu hỏi mở

Vẽ các đồ thị tương ứng với các mô tả sau đây:

Tom đang lái xe hơi từ nhà đến nơi làm việc, xe đang chạy bon bon thì bỗng nhiên động cơ bị tắt máy và chiếc xe đứng khựng lại.

 

 

                      time

Marry đang trên đường đi học từ nhà đến trường thì bổng nhiên cố ấy nhận ra mình quên mang theo quyển sách "Bài tập hiểu biết đại số" nên cô ấy lập tức quay lại nhà lấy sách rồi trở lại trường học.

 

 

                      time

Ông Martin đang rảo bước chậm rãi từ nhà đến phòng làm việc thì bổng nhiên ông nhận ra mình sắp trễ buổi họp nên ông ấy bắt đầu bước càng lúc càng nhanh hơn.

 

 

                      time

Trên đường đi từ nhà đến trường, Tim dừng lại ở nhà một người bạn để đợi cậu ấy đi cùng, sau đó hai người cùng đến trường.

 

 

                      time

ĐỀ TÀI 4: XE CHỞ KEM

 

Sau một trận lũ, gia đình cậu bé Liber đã mất hết mọi thứ, Liber phải đi bán kem dạo bằng một chiếc xe đẩy có thùng chứa màu trắng, bề dày của thùng là 8cm để đảm bảo cách nhiệt. Kích thước của cái thùng trắng được cho ở hình vẽ sau:

 

 

 

 

Kem được đặt trong những cái bình hình trụ có đường kính là 7cm và cao 5,4 cm.

Trong thùng kem Liber đặt một khối đá lạnh có kích thước 20cm´20cm´20cm.

Câu hỏi 1: Tính các kích thước bên trong của thùng kem?

Câu hỏi 2: Ước tính xem trong thùng có thể đặt vừa khít bao nhiêu bình kem?(Đưa ra lời giải thích và hình vẽ minh họa).

 

Nhận xét đề tài:

Câu hỏi 2 là câu hỏi kết thúc mở vì việc chọn vị trí đặt khối đá lạnh là tùy ý và có thể đặt bình kem dọc theo chiều cao của bình hoặc đặt bình nằm ngang. Hơn nữa, các kích thước của bên trong thùng không chia hết cho các kích thước của bình đựng kem nên học sinh phải có quyết định phù hợp trong việc chọn số tầng, số hàng xếp các bình kem.

 

Một phương án trả lời

 

 

 

 

 

Chiều cao của thùng kem ở nơi không có khối đá là 30cm.

Lấy 30 chia 5,4 được 5,55, có nghĩa là ta phải xếp các bình thành 5 tầng.

Số bình kem xếp vào nơi không có khối đá là 26´5=130.

Chiều cao của thùng kem ở nơi có tảng đá 30cm - 20cm = 1,9cm, như vậy chỉ có một một tầng kem ở trên khối đá.

Số bình kem ở trên khối đá là: 6´1=6.

Tổng cộng có 136 bình kem.